Lựa chọn Văn phòng Công chứng như thế nào, hợp lý với bạn?

Dịch vụ công chứng từ khi được xã hội hóa đến nay đã thực sự trở thành dịch vụ cần thiết và ngày càng phát triển ở Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn. Nhu cầu công chứng của mỗi người dân cũng ngày càng cao. Riêng ở Hà Nội đã có hơn 100 Văn phòng công chứng. Vậy nên lựa chọn Văn phòng công chứng như thế nào để tiết kiệm thời gian, hiệu quả và cảm thấy thoải mái? Bài viết hôm nay tôi sẽ chia sẻ về vấn đề này.

Việc công chứng tôi đề cập trong bài viết này khác với chứng thực hay xác nhận ở UBND các cấp nhé. Bạn muốn chứng thực hộ khẩu hoặc xác nhận các thông tin về nhân thân như: khai sinh, chứng tử, quan hệ vợ chồng, quan hệ cha, mẹ, con… thì bạn không có quyền lựa chọn mà buộc phải đến UBND cấp có thẩm quyền (chẳng hạn UBND xã, phường… nơi bạn cư trú). Nhưng việc công chứng tôi nói trong bài viết này thì bạn có quyền lựa chọn nơi mà bạn ưng ý nhất.

1. Trước tiên bạn hãy phân biệt Phòng công chứng và Văn phòng công chứng

Nói một cách đơn giản và dễ hiểu nhất thì Phòng công chứng là của nhà nước, thường được quen gọi là công chứng nhà nước. Còn Văn phòng công chứng là của tư nhân, thường quen gọi là công chứng tư. Vậy nên khi đi công chứng bạn để ý tên của tổ chức công chứng đó, nếu là “Phòng” thì là của Nhà nước còn nếu là “Văn phòng” thì của tư nhân. Ngoài ra Phòng công chứng thường đặt tên theo số, VD Phòng công chứng số 1, số 2, số 3…

Về cơ bản chỉ khác nhau tên gọi và chủ sở hữu vốn thôi, cách thức hoạt động liên quan đến khách hàng công chứng hoàn toàn giống nhau. Còn để đánh giá cái nào tốt hơn cái nào thì còn phải xét thêm nhiều yếu tố nữa.

Trong bài viết này tôi gọi tắt tất cả bằng từ VPCC cho tiện.

2. Có hướng dẫn thủ tục cho bạn mà chưa cần xem giấy tờ hay không?

Thông thường trước khi đi công chứng bạn thường muốn hỏi thủ tục trước, sau đó khi lựa chọn được nơi công chứng rồi thì mới mang giấy tờ qua. Nhưng không phải nơi nào cũng chịu khó giải thích thủ tục cho bạn khi chưa có giấy tờ. Khi đó họ thường bảo bạn đại ý là mang giấy tờ qua rồi họ sẽ nói cụ thể. Điều đó không phải do khả năng hay trình độ mà có lẽ chỉ là do họ muốn tư vấn chính xác hơn cho bạn mà thôi.

Tuy nhiên có rất nhiều VPCC sẵn sàng tư vấn cặn kẽ, chi tiết cho bạn khi bạn chỉ đến hỏi hoặc thậm chí hỏi qua điện thoại thôi mà chưa cần phải mang bất cứ giấy tờ nào đến. Hãy ưu tiện chọn những VPCC như vậy.

3. Tư vấn và hướng dẫn có rõ ràng, dễ hiểu hay không?

Bạn thích một người tư vấn nhiệt tình, nhiều nội dung và nhiều giải thích hay một người tư vấn ngắn gọn và đúng trọng tâm?

Tuy cách thức và khả năng diễn đạt của mỗi người là khác nhau nhưng các công chứng viên (CCV) và chuyên viên của VPCC đều được đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật chuyên nghiệp. Đúng là những người tư vấn nhiệt tình thường gây được nhiều thiện cảm hơn nhưng theo tôi, bạn nên ưu tiên chọn VPCC tư vấn một cách gọn gàng, đúng câu hỏi, và quan trọng là bạn cảm thấy dễ hiểu là được. Nhiều khi việc giải thích nhiều vấn đề sẽ làm bạn thấy rối hơn khi được tư vấn xong.

4. Giá cả, phí dịch vụ có rõ ràng hay không?

Phí dịch vụ là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với mỗi khách hàng đến công chứng. Theo quy định thì các VPCC đều phải công khai niêm yết các loại phí tại trụ sở. Nhưng không phải lúc nào bạn cũng có thời gian xem và hiểu được bảng phí đó. Vậy nên nếu bạn hỏi tư vấn dù trực tiếp hay qua điện thoại thì cũng đừng ngần ngại mà hỏi các chi phí cụ thể cho việc công chứng của bạn, công chứng thì ngoài phí nhà nước theo quy định, còn có thể có các loại phí như: phí soạn thảo, phí ký ngoài trụ sở, phí ký ngoài giờ…

Bạn nên ưu tiên chọn những VPCC có sự tư vấn rõ ràng các loại phí. Rõ ràng ở đây không nhất thiết phải là một con số cụ thể, bởi vì còn phụ thuộc vào hồ sơ và giá trị tài sản của bạn khi công chứng nữa. Mà rõ ràng thể hiện ở việc bạn hiểu được với vụ việc của bạn thì có những phí gì, cách tính như thế nào, tổng chi phí hết khoảng bao nhiêu tiền…

Bạn cũng lưu ý là VPCC sẽ có một bộ phận kế toán riêng để tính các chi phí, vậy nên nhiều khi người tư vấn cho bạn sẽ không nhớ hết được mà phải hỏi bộ phận kế toán. Do đó có thể họ sẽ hẹn gọi lại và thông báo chi phí cho bạn sau. Đó là việc rất bình thường, không có gì “mập mờ” đâu.

5. Thái độ phục vụ và thực hiện công việc như thế nào?

Công chứng cũng là một dịch vụ, đó là một loại dịch vụ pháp lý. Nhưng không giống như cơ quan hành chính nhà nước, bạn không có quyền lựa chọn, thì ngược lại dịch vụ công chứng cũng như rất nhiều dịch vụ khác trong xã hội, khi đi công chứng bạn là khách hàng và bạn trả tiền để được phục vụ. Vậy nên bạn có quyền được hưởng một dịch vụ tốt và chất lượng, phù hợp với số tiền mà bạn bỏ ra. Nếu không, bạn có quyền tự do lựa chọn bất kỳ một VPCC nào khác.

Bạn biết điều này và VPCC cũng như các công chứng viên cũng đều hiểu điều này. Vậy nên sẽ không bao giờ có chuyện VPCC gây khó khăn hay cửa quyền với bạn. Nếu như có một lúc nào đó bạn cảm thấy như vậy, bạn hãy bình tĩnh suy nghĩ xem, có phải bạn đang “hiểu lầm” họ hay không?

Chẳng hạn, nếu bạn thấy họ yêu cầu bạn quá nhiều giấy tờ, mà bạn cảm thấy rằng không cần thiết, thì đó là do “quy định nó vậy”, họ cũng muốn bớt giấy tờ cho bạn lắm nhưng đó là quy định của pháp luật và điều quan trọng hơn, đó là để đảm bảo an toàn, hạn chế tối đa rủi ro và tranh chấp cho cả bạn và cho cả VPCC. Nếu bạn thấy giấy tờ lằng nhằng, đừng chần chừ hãy hỏi ngay là tại sao lại phải cung cấp những giấy tờ này, hỏi đến khi nào họ giải thích cho bạn hiểu thì thôi. Lúc đó bạn sẽ thấy thoải mái khi cung cấp giấy tờ cho họ.

Về cách thức thực hiện công việc thì cứ nhanh, gọn, cẩn thận và chính xác là được rồi. Cái này bạn nhìn hợp đồng họ soạn ra là sẽ đánh giá được phần nào. Thỉnh thoảng lỡ sai vài lỗi chính tả trong hợp đồng, văn bản mà bạn phải đi đính chính lại cũng không sao, chuyện bình thường thôi, không đánh giá được chất lượng VPCC ở mấy lỗi chính tả đó.

Về thái độ thì bạn cứ đánh giá dựa trên cảm nhận của bạn là chính xác rồi. Dù cảm nhận đó là chủ quan hay khách quan thì dù sao cũng phải có thiện cảm với nhau thì làm việc mới thoải mái được.

6. Mức độ nhiệt tình và dễ dàng đến đâu?

Bạn đến một VPCC mà họ cực kỳ nhiệt tình tư vấn cho bạn, thiếu giấy tờ gì họ cũng có cách giải quyết. Vụ việc, giao dịch của bạn khó khăn và phức tạp đến đâu họ cũng có thể xử lý được trong khi có thể bạn đã bị một số VPCC khác từ chối hoặc yêu cầu giấy tờ “lằng nhằng” hơn. Nói chung là kiểu gì bạn cũng sẽ công chứng được hợp đồng, giao dịch ở VPCC đó. Đương nhiên kèm theo đó sẽ là thêm một khoản chi phí khác nữa. Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy hài lòng và thoải mái hơn những nơi khác rồi. Nhưng liệu bạn có nên YÊN TÂM với hợp đồng, văn bản đã được công chứng như vậy không? Chưa chắc đâu nhé.

Sau một thời gian không ngắn được trải nghiệm các dịch vụ công chứng, và được tiếp xúc với các công chứng viên cũng như chuyên viên tư vấn, tôi nhận thấy là không giống như luật sư, sẽ chỉ bảo vệ quyền lợi tối đa cho khách hàng, thân chủ của mình, thì nhiệm vụ của các công chứng viên là phải đảm bảo an toàn tối đa cho các giao dịch, hợp đồng, văn bản mình công chứng, mà không được nghiêng về phía bên nào cả, kể cả đó là bên khách hàng đã thuê mình công chứng.

Mối quan hệ giữa VPCC và khách hàng có thể nói là “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” 😆 . Bất kỳ bên nào vô tình hay cố ý làm sai cũng sẽ gây hại cho bên còn lại.

Bạn luôn nghĩ rằng, văn bản, hợp đồng của bạn “có công chứng” là hoàn toàn yên tâm và chắc ăn rồi? Thực tế thì chưa hẳn là như vậy. Chỉ có VPCC và CCV nào ý thức được mối quan hệ “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” với khách hàng thì khi đó giao dịch, hợp đồng của bạn mới được đảm bảo an toàn và có thể yên tâm được. Đó là những VPCC và CCV có trách nhiệm và có “tâm”. Bạn có thể đặt niềm tin vào dịch vụ của họ.

Nhưng một số VPCC và CCV lại không nghĩ vậy, họ đặt việc công chứng được và thu được phí dịch vụ của khách hàng là ưu tiên số một, hoặc họ có tư duy cho rằng chỉ chứng nhận đúng là có người đó, thực hiện giao dịch đó mà không cần quan tâm đến các yếu tố pháp lý hay giấy tờ khác liên quan. Họ cho rằng khi có tranh chấp, rủi ro thì đó là việc của khách hàng, mình không có liên quan gì cả.

Thực tế là văn bản, hợp đồng đã công chứng vẫn có nguy cơ bị vô hiệu hoặc bị hủy bởi tòa án, thêm vào đó nếu như văn bản hay hợp đồng đó có những điều khoản rất bất lợi cho bạn, thì bạn sẽ có khả năng thua rất lớn khi có tranh chấp và phải ra tòa.

Như vậy có thể là cùng một giao dịch nhưng khi bạn công chứng ở VPCC này thì giao dịch của bạn sẽ an toàn nhưng nếu công chứng ở VPCC khác thì bạn lại đang phải đối mặt với nguy cơ văn bản hợp đồng bị vô hiệu hoặc rủi ro và tranh chấp cao trong tương lai.

Cách nhận biết tốt nhất trong trường hợp này có lẽ là… hỏi. Nếu bạn cảm thấy “có gì đó sai sai”, bạn hãy hỏi họ thật cụ thể và chi tiết để họ giải thích lý do, bạn hãy đặt ra nhiều tình huống và giả thiết (nếu thế này hoặc nếu thế kia thì có sao không chẳng hạn) để biết được các rủi ro có thể phát sinh. Nơi nào giải thích rõ ràng và bạn thấy vấn đề được sáng tỏ, thì bạn có thể yên tâm và tin tưởng nơi đó.

Chốt lại 1 câu: Chưa chắc VPCC yêu cầu bạn cung cấp ít giấy tờ và đơn giản đã tốt và đáng tin cậy hơn VPCC yêu cầu nhiều giấy tờ hơn đâu nhé.

7. Cách xử lý vấn đề có linh hoạt và đúng quy định?

VPCC làm việc chắc chắn cẩn thận là rất tốt rồi, nhưng nếu nguyên tắc quá thì bạn sẽ thấy hơi… nản. Nhất là khi việc xử lý một cách linh hoạt lại không hề trái luật. Tình huống cần linh hoạt phổ biến hơn cả ở các VPCC đó là thay thế một số giấy tờ. Có một số giấy tờ có thể thay thế cho nhau mà vẫn đúng quy định của pháp luật. Một VPCC biết cách tư vấn để khách hàng có thể cung cấp các giấy tờ thuận lợi hơn cho khách hàng mà vẫn đúng quy định, đảm bảo an toàn cho hợp đồng, giao dịch thì đó là một VPCC đáng để bạn tin tưởng và trả phí dịch vụ cho họ.

8. Cách giải quyết khi lỡ làm sai

Khi bạn làm bất cứ việc gì thì sai sót cũng là điều không thể tránh khỏi. Công chứng là một dịch vụ pháp lý, có thể chỉ cần một sai sót nhỏ cũng gây thiệt hại lớn cả cho khách hàng và cho công chứng viên. Vì vậy công chứng viên cũng là một nghề có sự rủi ro và tính trách nhiệm cao.

Những sai sót mà tôi nói ở đây là những sai sót không gây hậu quả nghiêm trọng và đã kịp được phát hiện ra trước khi phát hành hợp đồng công chứng, chẳng hạn như quên, thiếu 1 giấy tờ nào đó, nhầm lẫn trong văn bản, hợp đồng, giải thích sai, giải thích nhầm quy định cho khách hàng..v..v.. Những sai sót này kể cả ở những VPCC tốt nhất đi nữa thì thỉnh thoảng vẫn xảy ra (thỉnh thoảng thôi chứ thường xuyên thì “có vấn đề” rồi 😆) và nếu không may điều “thỉnh thoảng” đó lại rơi trúng vào bạn thì bạn cũng hãy cho họ cơ hội để sửa sai. Nếu như họ trung thực nhận lỗi và sửa sai một cách đàng hoàng, minh bạch và có trách nhiệm, quan trọng là bạn cảm thấy hài lòng thì đó là một VPCC tốt và đáng tin cậy. Bạn nên tiếp tục sử dụng dịch vụ của họ trong tương lai.

Còn nếu biết chắc lỗi sai là do họ rồi nhưng họ vẫn tìm cách từ chối và đổ lỗi cho ai đó, hoàn cảnh nào đó… thì bạn nên cân nhắc việc có nên tiếp tục sử dụng dịch vụ công chứng của những nơi đó hay không.

Đó là 8 điều cần lưu ý khi bạn lựa chọn VPCC để công chứng các giao dịch, hợp đồng, văn bản mà tôi muốn chia sẻ với bạn qua quá trình tiếp xúc và làm về công chứng.

DSC03358

Tóm lại, một VPCC to, hoành tráng, vị trí đẹp cũng không hoàn toàn phản ánh được chất lượng dịch vụ tương xứng. Phòng công chứng nhà nước chưa chắc đã yên tâm hơn hẳn các VPCC tư nhân.

NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUỐN MUA LẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam theo 3 trường hợp:

1/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

2/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

3/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

procedure-for-foreigner-purchase-shares-to-company1

Hoạt động mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài phải lưu ý các quy định sau:

– Việc mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện theo quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;

– Việc góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thực hiện các cam kết gia nhập WTO về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường;

– Ngoài các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư , việc góp vốn, mua cổ phần phải áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành ví dụ pháp luật về đất đai, sở hữu trí tuệ,…

Trình tự, thủ tục đối với việc Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam quy định riêng theo từng trường hợp trên đây như sau:

Trường hợp 1: nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; Theo đó, không làm thay đổi pháp nhân, chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản trong doanh nghiệp ; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo thủ tục quy định tại Điều 42 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP;

Trường hợp 2: nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; theo đó thay đổi chủ sở hữu ; doanh nghiệp Việt Nam đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều 43, 44 của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đối với các thủ tục có liên quan;

Nhà đầu tư nước ngoài báo cáo Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Nghị định 118/2015/NĐ-CP để đăng ký lại như đối với quy định cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trường hợp 3: nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh) theo quy định tại Điều 63 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

Trường hợp thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì số Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là số đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp được cấp mới theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Thông tư 16/2015/TT-BKHĐT quy định biểu mẫu thực hiện thủ tục đầu tư và báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam Và thông tư số 83/2016/TT-BTC  của Bộ Tài Chính. Các quy định về quyền được giữ lại tên doanh nghiệp, con dấu, tài khoản và mã số thuế đã đăng ký chỉ áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy phép đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực hiện đăng ký lại theo quy định của Nghị định 194/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013

Việc doanh nghiệp mua được kế thừa mã số thuế của doanh nghiệp bán thực hiện theo quy định tại Thông tư số 5/2007/TT-BTC ngày 18/07/2007 và Quyết định số 82/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về mã số đối tượng nộp thuế qui định khi có hợp đồng hoặc thỏa thuận về việc bán doanh nghiệp, thì doanh nghiệp bán phải thông báo bằng văn bản, kèm theo hợp đồng mua bán doanh nghiệp, bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký thuế và quyết toán thuế gửi cho cơ quan thuế. Mã số thuế của doanh nghiệp mua giữ nguyên là mã số của doanh nghiệp bán. Riêng trường hợp doanh nghiệp bán là doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp mua được cấp mã số thuế mới.

dich-vu-thi-hanh-ban-an-dan-su-nuoc-ngoai-tai-viet-nam

 

Hiện trạng một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài mượn tên người Việt đăng ký kinh doanh

Hiện nay đang tồn tại khá phổ biến việc nhiều công ty được thành lập hoặc đang hoạt động dưới danh nghĩa công ty TNHH, CTCP do người Việt nam làm chủ nhưng thực chất tiền lại do 1 số nhà đầu tư nước ngoài chuyển và hoạt động. Thực tế người Việt nam chỉ là người làm thuê cho chủ nước ngoài.

Nguyên nhân xuất phát điểm là do trong một sốtrường hợp, Nhà đầu tư nước ngoài không thể đứng tên sở hữu Công ty tại Việt Nam vì các lý do

  1. Chi phí thành lập công ty nước ngoài quá cao
  2. Một số ngành nghề kinh doanh Việt Nam chưa cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động
  3. Đơn giản hóa thủ tục thành lập công ty và trong quá trình hoạt động
  4. Các trường hợp khác
Khi gặp các trường hợp này, Nhà đầu tư nước ngoài nên lựa chọn Người Việt Nam để đứng tên thành lập công ty, và tất nhiên, giữa 02 bên phải có thỏa thuận bằng văn bản theo đó, người nước ngoài sẽ:
  1. Quản lý và Điều hành mọi hoạt động của Công ty
  2. Sở hữu Công ty như một người chủ thật sự
  3. Người Việt Nam chỉ nhận lương và các khoản thưởng (nếu có)
Trong nội dung dịch vụ của Công ty Quốc Luật, Công ty sẽ tư vấn toàn bộ các vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức đầu tư này và trực tiếp thay mặt Quý khách thực hiện toàn bộ các thủ tục theo quy định của pháp luật, bao gồm:
  1. Tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan
  2. Tư vấn, soạn thảo các hợp đồng thỏa thuận giữa nhà đầu tư nước ngoài và người Việt Nam
  3. Tư vấn, thực hiện toàn bộ các thủ tục để xin cấp giấy phép và cho người nước ngoài quản lý tài khoản ngân hàng của Công ty.

    break(great for any design)

Nếu “cơm lành canh ngọt” thì không nói làm chi, nhưng hiện đã xảy ra nhiều doanh nghiệp có xu hướng làm ăn chộp giật. Mục đích chỉ là mượn danh nghĩa người khác để vụ lợi cho mình. Xảy đến tình cảnh người đại diện pháp luật vô tình vướng vào vòng lao lý.

Ở đây cũng cần phải hiểu rõ người đại diện theo pháp luật của DN là người bị pháp luật “túm tóc”, giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến loại lớn nhất của DN. Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của DN là người đứng đầu pháp nhân (tức là “thủ trưởng” của DN). Người đại diện theo pháp luật của DN phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận ĐKKD của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc hay Tổng Giám đốc – Sau đây gọi chung là Giám đốc – (các điều 46, 67, 95 và 116, Luật DN năm 2005) đã quy định rõ chức danh cụ thể với từng loại hình DN.

Trong thực tế, người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện đương nhiên cho doanh nghiệp về cả đối nội lẫn đối ngoại. Người đại diện theo pháp luật được quyền ký kết hợp đồng, thỏa thuận mà không cần ủy quyền hoặc chấp thuận nào – nói cách khác, quyền đại diện cho doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật là vô hạn. Trong nội bộ, người đại diện theo pháp luật quyết định các vấn đề quan trọng như việc tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp.

Để công việc làm ăn thuận tiện, hay vì lý do nào đó mà chủ thực sự góp vốn đã lách luật để cho người khác đứng tên giùm. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành không cho phép nhờ đứng tên thay. những hành vi hay giao dịch kiểu như vậy là hoàn toàn không đúng quy định của pháp luật. Thậm chí có thể xem là “lừa dối” cơ quan quản lý Nhà nước (vì không góp vốn mà vẫn đăng ký là có góp vốn, để được cấp giấy chứng nhận góp vốn). Nhưng quan trọng và đáng nói hơn, là luôn tiềm ẩn những rủi ro lớn cho người bị nhờ đứng tên. Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể nào về việc xử phạt vi phạm đối với hành vi cho người khác đứng tên giùm khi thành lập doanh nghiệp, Nhưng theo quy định của pháp luật thì hành vi nhờ người khác đứng tên giùm doanh nghiệp được coi là hành vi kê khai không trung thực, không chính xác đối với hồ sơ thành lập doanh nghiệp tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó đối chiếu với quy định khoản 1 điều 20 của Nghị định 155/2015 NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính kế hoạch đầu tư thì đã có quy định rõ như sau:

Điều 20. Vi phạm quy định về kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác trong trường hợp:

a) Đăng ký thành lập doanh nghiệp;

b) Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp;

c) Đăng ký hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;

d) Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;

đ) Đăng ký giải thể doanh nghiệp;

e) Thông báo chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;

g) Thông báo tạm ngừng kinh doanh.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký thay đổi và thông báo lại các thông tin doanh nghiệp đã kê khai không trung thực, không chính xác.

Như vậy nếu kê khai không trung thực khi đăng ký thành lập  doanh nghiệp thì mức xử phạt từ 10 đến 15 triệu đồng đồng thời buộc phải đăng ký lại hồ sơ, sửa đổi lại thông tin..Có rất nhiều trường hợp khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chủ thực sự đã cầm tiền bỏ trốn và người đứng tên thay phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với vấn đề của doanh nghiệp, đồng thời sau đó cơ quan có thẩm quyền buộc phải rút giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp…Tùy mức độ tham gia vào công ty và quy mô lừa đảo, người đứng tên thay có thể bị phạt tiền, thậm chí lãnh án tù

Do vậy để tránh được những rủi ro pháp lý, cũng như những vấn đề xấu có thể xảy ra trong quá trình đứng tên giùm cho doanh nghiệp, trước khi đứng tên giùm, người đại diện nên xem xét kỹ lường mối quan hệ của mình với chủ sở hữu thực sự,cân nhắc tư cách của người nhờ đứng tên, tính minh bạch của vụ việc. Người nhờ có đáng tin không? Tài sản họ nhờ bạn đứng tên do đâu mà có? Giấy tờ đứng tên có hợp pháp không?, ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của công ty, mô hình doanh nghiệp….

Nếu không thể xác định rõ các vấn đề trên  nếu được nhờ đứng tên công ty, giám đốc và trực tiếp ký chứng từ, nên từ chối ngay. Dù người nhờ chứng minh được họ làm ăn chân chính nhưng không đủ điều kiện để theo dõi sát sao. Hậu quả rất khó lường.

Bản thân người được nhờ đứng tên phải xác định rõ việc mình làm đúng hay sai, có bị pháp luật cấm hay không, tư cách, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình khi đứng tên giùm cho doanh nghiệp. Nhưng một khi sự cố xảy ra, cách tốt nhất hãy gặp luật sư càng sớm càng tốt để tìm cách chứng minh sự trong sạch của mình.

Vậy theo bạn, theo tôi. Chúng ta phải làm sao để có thể cân bằng được mối quan hệ này?

thu_tuc_thanh_lap_cong_ty5

 

Mở rộng quyền tự do kinh doanh

0603201405

Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân.

(TBKTSG) – Luật Doanh nghiệp (LDN 2014) và Luật Đầu tư (LĐT 2014) vừa được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014, sẽ có hiệu lực từ ngày 1-7-2015, thay thế cho LDN và LĐT hiện hành. Tinh thần toát lên hai luật mới này là sự thừa nhận và tôn trọng quyền tự do kinh doanh, trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp.

Quyền tự do kinh doanh: Từ Hiến Pháp đến LDN 2014 và LĐT 2014

Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân. Hơn nữa, không quy định chung chung như Hiến pháp 1992 là công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, điều 33 của Hiến pháp 2013 nói rõ rằng “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai ý quan trọng: (i) Mọi người có quyền tự do kinh doanh; và (ii) Giới hạn của quyền tự do đó là những gì luật cấm, nói khác đi, muốn cấm cái gì thì Nhà nước phải công bố minh thị.

Ngành nghề cấm kinh doanh: Điều cấm đã được nói rõ

Luật Doanh nghiệp hiện hành không nêu các ngành nghề cấm kinh doanh. Thay vào đó, điều 30 LĐT hiện hành cấm đầu tư trong các lĩnh vực gây phương hại đến (i) quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng; (ii) di tích lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam; (iii) sức khỏe nhân dân, hủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường; và (iv) các dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hại hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm. Vấn đề là không dễ xác định phạm vi của các lĩnh vực cấm đầu tư, vậy nên, về bản chất, không thể xác định được giới hạn cấm.

Tuy nhiên, điều này hoàn toàn thay đổi trong LDN 2014. Điều 7 về quyền của doanh nghiệp trong LDN 2014 minh thị rằng doanh nghiệp được “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”.

Vậy luật cấm gì? Điều 6 LĐT 2014 cấm đầu tư kinh doanh trong sáu ngành nghề sau: kinh doanh ma túy; kinh doanh hóa chất, khoáng vật cấm; kinh doanh động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

Để làm rõ hơn giới hạn cấm này, trong phụ lục 1 và 2, LĐT 2014 còn liệt kê chi tiết danh mục chất ma túy, danh mục động, thực vật, khoáng vật cấm kinh doanh đầu tư. Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, có lẽ đây là lần đầu tiên một văn bản luật nhưng lại có các phụ lục quy định chi tiết và tỉ mỉ như vậy.

Đăng ký kinh doanh: Không cần ghi ngành nghề

Điều 9, LDN hiện hành quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKDN). Điều luật này trói buộc doanh nghiệp trong những ngành nghề mà Nhà nước nghĩ ra, liệt kê ra và cho phép doanh nghiệp đăng ký. Suy cho cùng, đó là sự ban phát quyền kinh doanh từ Nhà nước.

Tuy nhiên, một khi giới hạn cấm kinh doanh đã được làm sáng tỏ, việc liệt kê ngành nghề kinh doanh, với ý nghĩa xác định quyền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sẽ trở nên vô nghĩa.
Trong LDN 2014, ngành nghề kinh doanh không còn là một nội dung trong GCNĐKDN nữa. Theo điều 29 của luật mới này, GCNĐKDN sẽ chỉ còn bốn nội dung: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính; thông tin về người đại diện theo pháp luật và thành viên công ty; và vốn điều lệ.

Đứng ở góc độ điều hành, doanh nghiệp sẽ không còn phải lo lắng xem công việc mình đang làm có phù hợp với ngành nghề đã đăng hay không, hoặc hợp đồng sẽ hoặc đã ký có bị đối tác kiện ra tòa yêu cầu tuyên vô hiệu với lý do nội dung công việc không nằm trong phạm vi ngành nghề đăng ký hay không.

Nhà nước: nhà đầu tư trong sân chơi chung theo luật chơi chung

Theo điều 88, LDN 2014, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ. Các doanh nghiệp này sẽ được thành lập theo mô hình công ty TNHH một thành viên và tuân thủ các quy định trong LDN 2014 về công ty TNHH một thành viên, trừ một số quy định đặc thù về quản lý vốn, bổ nhiệm nhân sự và công bố thông tin. Khi Nhà nước không nắm 100% vốn điều lệ trong công ty thì công ty đó sẽ được thành lập và vận hành theo mô hình công ty TNHH hai thành viên hoặc công ty cổ phần, Nhà nước khi đó cũng sẽ là thành viên hoặc cổ đông như các thành viên hoặc cổ đông khác và phải tuân thủ điều lệ công ty và LDN 2014 như một nhà đầu tư bất kỳ nào.

Con dấu: sự cởi trói cần thiết trong môi trường kỹ thuật số

Con dấu đã từng được ví là “ngọc tỷ” trong doanh nghiệp, không một giấy tờ nào được thừa nhận và tôn trọng khi không có đo đỏ con dấu đóng lên. Ai nắm con dấu người đó có thể kiểm soát toàn bộ công ty thậm chí làm cho cả một công ty ngừng hoạt động.

Tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh khi mà những giao dịch được thực hiện qua những cái click chuột, thì con dấu dần mất vai trò của mình. Theo điều 44, LDN 2014, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu cũng như việc quản lý, sử dụng và lưu giữ nó.

Với quy định này, cơ quan công an sẽ không còn quyền vào doanh nghiệp để kiểm tra việc sử dụng dấu hoặc doanh nghiệp cũng không mất thời gian và chi phí lên xuống cơ quan công an để khắc dấu hoặc bị phạt khi lỡ làm mất con dấu. Cũng có thể hình ảnh cô văn thư cần mẫn cặm cụi đóng dấu trên những chồng hồ sơ cao ngất sẽ dần mờ nhạt đi cùng với thời gian vì cũng theo điều 44 này, “con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng con dấu”.

Xin lỗi, anh không phải là người đại diện duy nhất!

LDN 2014 có khá nhiều thay đổi về mặt quản trị công ty, trong đó có thay đổi về người đại diện theo pháp luật. Luật lần này cho phép các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật. Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nhiệm vụ, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ được quy định trong điều lệ công ty (điều 13)

Thay đổi này ảnh hưởng rất lớn đến mô hình tổ chức và quản trị công ty nhưng theo hướng quản trị công ty hiện đại. Mỗi giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty – khi đó sẽ có quyền đại diện cho công ty trong phạm vi quyền hạn họ được trao. Và một khi họ thực hiện đúng thẩm quyền của mình, mọi hành động của họ sẽ ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp.
Để có thể thích ứng được với quy định mới, doanh nghiệp sẽ buộc phải phân định rõ quyền, nhiệm vụ, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật, đồng thời, đối tác sẽ phải tìm hiểu tư cách và thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật trước khi quyết định làm ăn với doanh nghiệp.

Vẫn có những lo lắng

Theo thông lệ, LDN 2014 sẽ được các cơ quan liên quan hướng dẫn thi hành. Câu hỏi đặt ra là tinh thần cải cách của LDN 2014 sẽ được tiếp nối thế nào trong các văn bản hướng dẫn, khi mà LDN 2014 vẫn có những vùng xám tạo dư địa cho cả sự cải cách lẫn sự kìm hãm. Ví dụ như yêu cầu về việc buộc người đăng ký doanh nghiệp phải nộp lý lịch tư pháp cho cơ quan đăng ký kinh doanh; quy định doanh nghiệp được quyền kiện cơ quan đăng ký kinh doanh khi từ chối tên dự kiến của doanh nghiệp; quy định Chính phủ quy định chi tiết về con dấu…

luat_doanh_nghiep_2014

 

Giảm tỷ lệ cổ đông hiện diện và thông qua quyết định trong kỳ họp

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, đối với công ty TNHH hai thành viên, cuộc họp Hội đồng thành viên (HĐTV) sẽ được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ(1), trong khi đó, tỷ lệ này là 75% theo Luật Doanh nghiệp hiện hành(2). Tỷ lệ để quyết định của HĐTV được thông qua vẫn là phải có sự đồng ý của đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp, hoặc ít nhất 75% đối với những quyết định quan trọng như bán tài sản có giá trị lớn; sửa đổi, bổ sung điều lệ; tổ chức lại, giải thể công ty(3). Tuy nhiên, trong trường hợp công ty lấy ý kiến bằng văn bản, quyết định sẽ được thông qua khi được số thành viên sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ chấp thuận – tỷ lệ này theo Luật Doanh nghiệp hiện hành là 75%(4). Quy định mới dường như khuyến khích việc thông qua quyết định của HĐTV bằng văn bản.

Đối với công ty cổ phần, các thay đổi này càng sâu sắc hơn và gần với thông lệ trong các công ty cổ phần trên thế giới. Tỷ lệ cổ đông tối thiểu cần thiết phải có mặt cho các cuộc họp lần đầu của đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) bây giờ chỉ là quá bán (51% tổng số cổ phiếu biểu quyết), so với 65% như Luật Doanh nghiệp hiện hành. Nếu cuộc họp lần đầu không thể diễn ra, cuộc họp lần thứ hai sẽ hợp lệ khi có mặt số cổ đông đại diện cho ít nhất 33% tổng số cổ phiếu biểu quyết trong khi tỷ lệ này theo quy định hiện nay là 51%. Thêm vào đó, tỷ lệ phiếu đồng ý cần thiết để quyết định trong cuộc họp ĐHĐCĐ được thông qua cũng được hạ xuống tương ứng (chỉ cần 51% thay vì 65% như hiện nay, trừ một số vấn đề đặc biệt), tỷ lệ này giảm xuống đáng kể khi biểu quyết bằng văn bản: 51% so với 75% như hiện nay.

Ngoài ra, LDN 2014 còn trao thêm cho doanh nghiệp quyền chọn lựa mô hình tổ chức phù hợp. Đồng thời, chính thức thừa nhận vai trò của thành viên độc lập trong HĐQT. Đây có thể là cách luật cân bằng quyền quyết định của cổ đông lớn và sự minh bạch trong hoạt động của công ty để bảo vệ cổ đông nhỏ.

 

(1) Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2014

(2) Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2005

(3) Điều 52.(3) Luật Doanh nghiệp 2005 và điều 60.(3) Luật Doanh nghiệp 2014

(4) Điều 52.3 Luật Doanh nghiệp 201

(Bổ sung thông tin) Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua từ kỳ họp thứ 1 đến kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa XIII)

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 1 – Quốc hội khóa XIII:
1. Nghi quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ và số Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ khóa XIII

2. Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

3. Nghị quyết về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011

4. Nghị quyết về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân

5. Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2009

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 – Quốc hội khóa XIII:
1. Luật cơ yếu

2. Luật đo lường

3. Luật khiếu nại

4. Luật lưu trữ

5. Luật tố cáo

6. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015

7. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012

8. Nghị quyết về kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015

9. Nghị quyết về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2015

10. Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) cấp quốc gia

11. Nghị quyết về kết thúc việc thực hiện Nghị quyết số 08/1997/QH10 và Nghị quyết số 73/2006/QH11 về dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

12. Nghị quyết về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề

13. Nghị quyết về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII

14. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 – Quốc hội khóa XIII:
1. Bộ Luật lao động

2. Luật Bảo hiểm tiền gửi

3. Luật Biển Việt Nam

4. Luật Công đoàn

5. Luật Giáo dục đại học

6. Luật giá

7. Luật giám định tư pháp

8. Luật phòng, chống rửa tiền

9. Luật phòng, chống tác hại thuốc lá

10. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật

11. Luật Quảng cáo

12. Luật Tài nguyên nước

13. Luật xử lý vi phạm hành chính

14. Nghị quyết về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2013; điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII

15. Nghị quyết về việc thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính

16. Nghị quyết về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

17. Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội

18. Nghị quyết về bổ sung một số dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015

19. Nghị quyết về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân

20. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII.

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4 – Quốc hội khóa XIII:

1. Luật Xuất bản.

2. Luật Luật sư (sửa đổi)

3. Luật Quản lý thuế (sửa đổi)

4. Luật Dự trữ quốc gia

5. Luật Hợp tác xã.

6. Luật Điện lực (sửa đổi)

7. Luật Thủ đô.

8. Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi)

9. Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi)

10. Nghị quyết số 31/2012/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013.

11. Nghị quyết số 34/2012/QH13 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2013.

12. Nghị quyết số 35/2012/QH13 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

13. Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại.

14. Nghị quyết số 37/2012/QH13 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013.

15. Nghị quyết số 38/2012/QH13 về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

16. Nghị quyết số 39/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai;

17. Nghị quyết số 40/2012/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5 – Quốc hội khóa XIII: không có dự Luật nào được thông qua

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 – Quốc hội khóa XIII:
1. HIến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2. Luật việc làm

3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng

4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy, chữa cháy

5. Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật

6. Luật tiếp công dân

7. Luật đấu thầu

8. Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

9. Luật đất đai

10. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2014

11. Nghị quyết về tăng cường công tác quản lý, quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện

12. Nghị quyết về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm

13. Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

14. Nghị quyết về điều chỉnh một số nội dung và giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 28/2004/QH11

15. Nghị quyết về tăng cường công tác triển khai thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

16. Nghị quyết đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân

17. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 – Quốc hội khóa XIII: không có dự Luật nào được thông qua

  • (Nguồn: http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn/)

CÁC DỰ ÁN LUẬT ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI KỲ HỌP THỨ 8 QUỐC HỘI KHÓA XIII.

Sau hơn một tháng làm việc với tinh thần trách nhiệm trước cử tri và nhân dân cả nước, Quốc hội đã dành khoảng 2/3 thời gian cho công tác xây dựng pháp luật. Theo đó, Quốc hội đã thông qua 18 dự án luật, bao gồm: (1) Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi); (2) Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi); (3) Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi); (4) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; (5) Luật Hộ tịch; (6) Luật Căn cước công dân; (7) Luật Công an nhân dân (sửa đổi); (8) Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; (9) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; (10) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều các luật về thuế; (11) Luật Nhà ở (sửa đổi); (12) Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); (13) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; (14) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; (15) Luật Doanh nghiệp (sửa đổi); (16) Luật Đầu tư (sửa đổi); (17) Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi); (18) Luật Giáo dục nghề nghiệp.
shutterstock_117179231
(1) Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi):
Dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với 86,92% đại biểu tán thành. Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) bao gồm 7 Chương 102 Điều. Theo đó, đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Đồng thời, Luật cũng bổ sung nhiệm vụ của đoàn đại biểu trong việc tổ chức giám sát, tham gia hỗ trợ hoạt động giám sát tại địa phương, yêu cầu cơ quan, tổ chức liên quan cung cấp thông tin báo cáo về những vấn đề đại biểu quan tâm, quy định rõ hơn về điều kiện hoạt động của đại biểu. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.
(2) Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi):
Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) đã được Quốc hội thông
qua với đa số đại biểu Quốc hội bấm nút tán thành, gồm 11 chương, 98 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân; về Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác trong Tòa án nhân dân; về bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân.
Điểm mới của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) là Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử. Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2015, trừ khoản 1 Điều 4, Điều 24, Điều 34, điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 41, khoản 1 Điều 45, Điều 46, khoản 4 Điều 51, khoản 3 Điều 55, khoản 3 Điều 58, Điều 67, khoản 4 Điều 68, khoản 1 Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, khoản 2 Điều 95 thì có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2015 và thay thế Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 33/2002/QH10.
(3) Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (sửa đổi):
Quốc hội đã thông qua Dự thảo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (sửa đổi). Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (sửa đổi) gồm 6 chương, 101 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2015. Theo đó, về thời điểm bắt đầu thực hành quyền công tố, Luật quy định Viện kiểm sát nhân dân bắt đầu thực hành quyền công tố từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra “giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm”. Luật cũng quy định Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương có thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham những, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của Luật mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
(4) Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự:
Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã được Quốc hội thông qua. Luật mới được thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự.
Luật quy định cụ thể về thẩm quyền quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án; quy định về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và chấp hành viên. Bên cạnh đó, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự cũng quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự.
(5) Luật Hộ tịch:
Dự thảo Luật Hộ tịch được Quốc hội biểu quyết thông qua với 75,65% tỷ lệ số đại biểu Quốc hội tán thành. Luật Hộ tịch gồm có 7 chương, 77 điều quy định về hộ tịch; quyền, nghĩa vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch. Thẩm quyền, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam, Luật nuôi con nuôi. Luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016. Dự thảo luật vừa được thông qua có nhiều nội dung đáng chú ý như vẫn giữ quy định về việc cấp giấy khai sinh cho trẻ em khi đăng ký khai sinh; đồng thời, bổ sung quy định nội dung giấy khai sinh và giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về hình thức của loại giấy này, giao việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp huyện.
(6) Luật Căn cước công dân:
Dự thảo Luật Căn cước công dân được Quốc hội biểu quyết thông qua với 76,66% số đại biểu tán thành. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật Căn cước công dân gồm có 6 chương, 39 điều quy định về căn cước công dân, cơ sở dữ liệu căn cước công dân và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; việc quản lý, sử dụng thẻ Căn cước công dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luật này áp dụng đối với công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Như vậy, theo Luật Căn cước công dân vừa được Quốc hội thông qua, việc xác lập quy định cụ thể về cấu trúc số định danh cá nhân được giao cho Chính phủ quy định. Về độ tuổi cấp thẻ căn cước công dân, Luật quy định cấp thẻ Căn cước công dân cho người từ 14 tuổi trở lên. Về những thông tin ghi trên thẻ, ngoài những thông tin như trong dự thảo Luật được thông qua đã bổ sung thêm ngôn ngữ tiếng Anh.
(7) Luật Công an nhân dân (sửa đổi):
Dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi) đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với 71,83% số đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Sau khi ban hành, Luật Công an nhân dân (sửa đổi) sẽ mở đường cho việc hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, xây dựng lực lượng Công an nhân dân, thể chế hóa các quan điểm của Đảng, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay. Một trong những điểm đáng chú ý của Luật Công an nhân dân (sửa đổi) là về trần quân hàm. Theo đó, Luật quy định thống nhất chức danh Thứ trưởng, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương có trần quân hàm Thượng tướng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.
(8) Luật Nhà ở (sửa đổi):
Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) được Quốc hội thông qua với 77,46% đại biểu tán thành. Luật nhà ở (sửa đổi) gồm 13 chương, 179 điều. Luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhà ở nhằm phát triển đa dạng và hài hòa các loại hình nhà ở bao gồm nhà ở chung cư, nhà ở riêng lẻ; nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của từng nhóm đối tượng trong xã hội; hình thành các định chế tài chính phát triển nhà ở phù hợp để các doanh nghiệp và mọi người dân, đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội, người thu nhập thấp được tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho mục đích cải thiện nhà ở; từng bước đáp ứng nhu cầu về nhà ở ngày càng tốt hơn cho các tầng lớp dân cư; bảo đảm quyền có chỗ ở của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013.
Luật cũng mở rộng đối tượng và điều kiện người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam để huy động các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh nghiện… phục vụ cho phát triển đất nước; đồng thời góp phần thúc đẩy thị trường xây dựng trong nước phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế trên nguyên tắc bảo đảm ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và phát triển bền vững. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.
(9) Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi):
Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) được Quốc hội thông qua với 82,70% đại biểu tán thành, bao gồm 6 chương và 82 điều, sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2015.Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) cho phép mua bán nhà ở được hình thành trong tương lai và quy định, trong thời hạn 50 ngày kể từ khi bàn giao nhà, công trình xây dựng cho người mua thì nhà đầu tư phải làm thủ tục để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp các bên tự làm thủ tục này.
(10) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam:
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với 363 đại biểu tán thành (73,04% tổng số đại biểu Quốc hội). Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bất hợp lý của luật hiện hành, tuân thủ Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hướng tới mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là Tổng tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị có trần quân hàm đại tướng bằng Bộ trưởng Quốc phòng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.
(11) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Hàng không dân dụng Việt Nam:
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Hàng không dân dụng Việt Nam đã được Quốc hội thông qua với 81,29% số phiếu tán thành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Để bảo đảm hài hòa quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng Nhà nước định giá đối với các dịch vụ hàng không và một số dịch vụ phi hàng không thiết yếu; đối với giá các dịch vụ, hàng hóa thông thường khác sẽ được điều tiết bởi cơ chế thị trường do doanh nghiệp quyết định nhưng phải thực hiện niêm yết công khai để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
(12) Luật Doanh nghiệp (sửa đổi):
Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) được thông qua với 86,12% số phiếu tán thành, bao gồm 10 chương, 213 điều, quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty; trình tự đăng ký doanh nghiệp; nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tài sản góp vốn…
Điểm mới của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) là các doanh nghiệp có quyền quyết định hình thức, số lượng, nội dung con dấu. Sau khi tự quyết định con dấu, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo với cơ quan quản lý để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp được quyết định việc sử dụng hoặc không sử dụng con dấu, con dấu doanh nghiệp không còn là điều bắt buộc như trước đây. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.
(13) Luật Đầu tư (sửa đổi):
Quốc hội đã thông qua Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) với 84,91% đại biểu Quốc hội tán thành, dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) gồm 7 chương và 76 điều. Điểm mới nhất của Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) lần này là sự thay đổi phương pháp tiếp cận khi làm luật, thay vì “chọn cho” (nghĩa là cái gì cho thì ghi trong luật), đã chuyển sang cách “chọn bỏ” (quy định những gì cấm, còn lại thì doanh nghiệp, nhà đầu tư được phép đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật). Cơ quan soạn thảo thống nhất với các bộ, ngành hữu quan thu hẹp từ 51 lĩnh vực, ngành, nghề, hàng hóa, dịch vụ xuống còn 6 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh như quy định tại Điều 6 của dự thảo Luật. Tất cả 6 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều này đều đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhưng được tổng hợp trong Luật Đầu tư (sửa đổi) để làm rõ hơn quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.
(14) Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp:
Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp được Quốc hội biểu quyết thông qua với 423 đại biểu tán thành (chiếm 85,11%). Luật gồm 10 chương 66 điều, quy định việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và giám sát việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Luật cũng quy định rõ 8 nguyên tắc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đó là: Tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành; Đầu tư vốn nhà nước để hình thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu, công đoạn then chốt trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp theo quy định tại Điều 10 và Điều 16 của Luật này; Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp; Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; Bảo đảm có hiệu quả, bảo toàn và gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp; Bảo đảm công khai, minh bạch trong đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp…Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015.
(15) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt:
Dự thảo Luật bổ sung, sửa đổi một số điều Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đã được Quốc hội thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Sau nhiều ý kiến thảo luận, Quốc hội đã quyết định chưa bổ sung mặt hàng kinh doanh game online, mặt hàng kinh doanh trò chơi bình chọn, dự báo kết quả, trò chơi có thưởng thông qua nhắn tin, nước ngọt có ga vào đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Đồng thời, tăng mức thuế suất theo lộ trình đối với các mặt hàng thuốc lá, rượu, bia, kinh doanh casino; giảm thuế suất đối với mặt hàng xăng sinh học.
(16) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế:
Quốc hội cũng đã biểu quyết thông qua Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế với 425 đại biểu tán thành (chiếm 85,51%). Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư; giảm bớt khó khăn về vốn, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp từng bước phục hồi và phát triển sản xuất – kinh doanh, góp phần tăng thu ngân sách trong dài hạn. Luật quy định áp dụng thuế suất ưu đãi 15% đối với thu nhập của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tài nguyên, Luật quy định “miễn thuế đối với nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt”… Dự thảo đã thống nhất việc bỏ quy định khống chế đối với chi quảng cáo, khuyến mại. Đáng chú ý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế không quy định về xóa tiền phạt chậm nộp. Trường hợp cần thiết phải xóa tiền phạt chậm nộp phát sinh trước ngày 01/7/2013 như đề xuất của Chính phủ, Quốc hội sẽ xem xét, ban hành nghị quyết riêng. Ngoài ra, để góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đã bổ sung quy định: Bỏ mức phạt chậm nộp 0,07% tính trên số tiền chậm nộp thuế đối với số thuế chậm nộp trên 90 ngày, giữ mức phạt chậm nộp 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền chậm nộp. Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ bằng vốn ngân sách Nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế nợ phát sinh trong thời gian ngân sách nhà nước chưa thanh toán. Luật có hiệu lực ngay trong đầu năm 2015 tới.
(17) Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi):
Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) được Quốc hội thông qua với 71,43% đại biểu tán thành. Luật có 9 Chương 125 Điều, quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Dự thảo Luật cũng bổ sung quy định quỹ Bảo hiểm xã hội được hạch toán theo nhóm đối tượng. Một điểm mới quan trọng của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) là việc giao thẩm quyền thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội nhằm khắc phục tình trạng trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp. Dự kiến Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.
(18) Luật Giáo dục nghề nghiệp:
Dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với 55,13% số đại biểu tán thành. Theo đó, Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Luật này áp dụng đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường cao đẳng; doanh nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam. Sau khi trao đổi, thống nhất với các cơ quan liên quan Quốc hội cho giữ nguyên quy định về vấn đề này như trong Luật dạy nghề hiện hành là giao cho Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và phân công cụ thể cơ quan thay mặt Chính phủ chịu trách nhiệm làm đầu mối thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực này. Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.
(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ KH&ĐT)