BIẾT– HIỂU– VÀ VẬN DỤNG LUẬT

Tôi viết bài này cho các bạn đang tập sự, để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 24 tháng “vác củi” này. Công việc của luật sư là vận dụng luật để tư vấn hay bào chữa; nhưng để làm được việc đó bạn phải đi qua hai bước là biết và hiểu luật. Vậy ta sẽ đi từ đầu.

I. Biết điều “bí mật” của luật pháp

Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.

Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)

Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc, công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng. Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”.  Ta đi vào từng cái.

A. Ấn định trách nhiệm

Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm. Thí dụ, bạn – là B – đang quét sân trước cửa nhà mình, thì gió thổi làm cho chậu hoa của người hàng xóm – là A – rơi vào đầu bạn. Bạn bị chảy máu đầu rồi thấy nhức đầu. Trước lúc chậu hoa rơi, bạn lành lặn, không đau đớn chỗ nào. Đấy là trật tự đã có. Khi chậu hoa rơi vào đầu bạn thì trật tự kia đã bị vi phạm. Vậy ông A phải đền tiền cho bạn để đi khâu chỗ da bị rách; uống thuốc cho hết đau…; nghĩa là lập lại cái trật tự đã bị vi phạm. Trách nhiệm của A được luật gọi là trách nhiệm dân sự. Đến đây, bạn sẽ bảo tôi: “Cái này tôi biết thừa rồi!” Tôi nhắc nó lại ở đây để bạn nhớ trách nhiệm là gì, nó phục vụ ai và mục đích gì. Tôi đã thấy câu “chịu trách nhiệm trước pháp luật” ở mẫu hợp đồng công chứng (dân sự) nên nhân thể nhắc các bạn đừng phạm như người đứng ra làm… mẫu cho ta.

Trên cuộc đời này có nhiều trật tự lắm và chúng nằm trong những lãnh vực khác nhau. Thí dụ, trật tự trong buôn bán, thuê nhà, làm việc, vay mượn tiền, sử dụng điện thoại, đầu tư, môi trường… Mỗi việc đó được luật gọi là hành vi bị điều chỉnh; nhưng nó là một giao dịch trong cuộc sống hàng ngày. Và ta sẽ gọi nó như thế. Trong sách vở, giao dịch được gọi là quan hệ xã hội, mối tương quan pháp lý… Tuy ba nhưng mà một. Khi nói chuyện với khách, bạn phải thoát khỏi sách vở để nói cho họ dễ hiểu. Bạn không thoát được sách vở thì bạn chưa biết luật! Và sợ nói sai.

Trong mỗi giao dịch có ít ra hai người can dự, và người nọ có thể gây thiệt hại cho người kia. Để mỗi giao dịch diễn biến suôn sẻ, đạt được mục đích của các bên; luật quy định nội dung giao dịch (gọi là hành vi điều chỉnh) và mỗi bên can dự phải làm gì (đối tượng điều chỉnh). Chuyển ra thực tế thì khi một bên làm, bên kia được hưởng; vậy bên làm có trách nhiệm, còn bên hưởng có quyền lợi; cả hai bên đều có những trách nhiệm và những quyền lợi nhất định. Ai không thực hiện trách nhiệm của mình thì người ấy làm thiệt hại người kia. Thí dụ, trong hợp đồng mua bán tài sản, bên mua không trả tiền thì  bên bán bị thiệt hại. Và trong thực tế bạn biết người sau sẽ làm gì. Luật pháp từ chữ nghĩa chuyển sang thực tế là như thế. Bạn cần nhớ “cặp đôi” này vì nó là bước đầu để vận dụng luật pháp.

Luật ấn định đối tượng điều chỉnh tức là định ra người thực hiện giao dịch. Từ đó – trong thực tế – mỗi người có một “tư cách”. Và ở trong mỗi tư cách, người ta có trách nhiệm lẫn quyền lợi. Bạn nhớ, trách nhiệm của người này tạo nên quyền lợi cho người kia. Ấn định “tư cách” là một kỹ thuật của luật pháp.

Danh từ “tư cách” trong luật khác ý nghĩa với “tư cách” trong luân lý. Cái trước là vị trí của mỗi người trong một giao dịch; cái sau là cách thức cư xử hay hành vi của một người nhất định (có triết gia gọi là cử thái, tiếng Anh là “behavior”). Tư cách theo nghĩa luân lý cho biết một người nào đó có đàng hoàng, đứng đắn hay không. Thí dụ như bạn nói “Ông ấy có tư cách”. Thế nhưng cũng nói câu y chang trong lãnh vực luật pháp thì nó có ý nghĩa ông ấy ở trong một vị trí nhất định và có quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp. Khi học ở trường luật, tư cách của một người được gọi là “địa vị pháp lý”. Từ ngữ này cho thấy bạn đứng từ ngoài và nói về một người khác không dính dáng gì tới bạn.

Khi hành nghề ta phải đi tìm tư cách của khách hàng mình trong giao dịch liên quan, để xác định trách nhiệm rồi quyền lợi của họ. Đó là “lợi ích hợp pháp” của họ mà họ thuê bạn… bảo vệ. Bạn dùng danh từ “tư cách” thì  dễ nhập vào làm một với họ trong suy nghĩ của mình.

B. Quy định giao dịch

Giao dịch xuất phát từ hai nguồn gốc. Một là sinh hoạt tự nhiên của dân chúng trong xã hội như buôn bán, làm nhà, chơi hụi, sinh con đẻ cái. Hai là những hoạt động do luật pháp đặt ra hay thiết lập vì chúng cần thiết cho sinh hoạt của xã hội, nhưng chưa tồn tại, hay chỉ mới manh nha trong thực tế. Thí dụ, trước năm 1987, ở ta không có người nước ngoài đầu tư; sau đó Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và lập ra công ty liên doanh. Sau này luật thiết lập thị trường chứng khoán rồi sàn giao dịch bất động sản…

Về các sinh hoạt tự nhiên vốn đã có từ lâu trong đời sống xã hội, thì luật pháp “điều chỉnh” chúng; nghĩa là luật xác định chúng; bằng cách định nghĩa chúng là gì, thực hiện thế nào; các bên liên quan làm gì, trách nhiệm ra sao… Thí dụ Bộ Luật Dân sự năm 1995 của ta (LDS).

Đối với các giao dịch chưa có hay mới manh nha xuất hiện trong đời sống xã hội, thì luật đặt ra chúng rồi điều chỉnh chúng giống như các hoạt động đã có sẵn. Tuy nhiên, trong trường hợp này luật thường dễ thay đổi để cho phù hợp với cuộc sống hơn, hay để đáp ứng với các điều kiện mới.

Luật xác định hay đặt ra các giao dịch theo nhu cầu của cuộc sống; nhưng các luật gia luật phân loại chúng thành quy phạm, chế định, ngành luật tạo để nên hệ thống luật, hầu giúp chúng ta dễ nhớ khi học.

Tóm lại, hai kỹ thuật luật pháp sử dụng là đặt ra các giao dịch, rồi ấn định tư cách của các người thực hiện giao dịch đó. Và đó là chữ nghĩa.

C. Luật đi vào cuộc sống

Trong cuộc sống hàng ngày mỗi người có nhiều tư cách. Thí dụ, ở nhà với bố mẹ, ông A là con (Luật Hôn nhân gia đình; quan hệ huyết thống); đến trường dạy học ông ta là thầy giáo, hiệu trưởng (Luật Giáo dục, quan hệ hành chính); ra chợ mua hàng thì là người mua (Luật Dân sự – quan hệ mua bán). Luật gọi là các bên; nhưng khi vận dụng luật ta phải chuyển mỗi bên thành một “tư cách”. Thí dụ, đọc thấy bên mua (hay Bên A) trong hợp đồng mua bán, thì bạn phải đổi họ thành “người mua”, hay “người bán. Như vậy, là khám phá ra “bí mật” của luật pháp!  Tất nhiên, bạn có thể nói: “Tôi gọi là bên mua, bên bán; còn ông gọi là người mua, người bán, thế thì có khác gì nhau?” Tất nhiên là không, nhưng nếu có nhiều bên khác tham gia thì tiếng “bên” sẽ dễ làm bạn lẫn lộn trong suy nghĩ, và không nhận ra ngay bổn phận và quyền lợi của mỗi người.  Luật sư phải suy nghĩ rạch ròi.

Trong thí dụ chậu hoa rơi, bạn là chủ nhà, mua chậu hoa về để trên ban công lúc chiều, đến đêm nó rơi vào đầu ông hàng xóm. Ở đây, khi đứng ở vị trí của chậu hoa kia mà nói, bạn là “ông chủ chậu hoa”. Bạn không còn là “ông chủ nhà”! Phải là chủ chậu hoa thì mới bắt bạn đền được; còn nếu nói bạn là “chủ nhà” thì bạn sẽ chối ngay “tôi chẳng dính dáng gì đến chậu hoa cả!” Khi là “chủ chậu hoa” thì lúc đền, tư cách của bạn thành “người gây thiệt hại” và phải bồi thường cho nạn nhân. Bạn thấy không, chỉ trong một hoàn cảnh đơn giản như vậy, bạn có ba tư cách; mỗi tư cách làm cho bạn có nghĩa vụ và quyền lợi khác nhau. Việc bồi thường của bạn được quy định trong LDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Luật của Pháp gọi là lỗi (faute); luật Anh, Mỹ gọi là lầm lẫn (tort) hay công bằng (equity). “Tư cách” là cái mối rối nhất của một cuộn dây dài bị rối. Gỡ nó ra được thì gỡ cuộn dây rối được. Gỡ cuộn dây là giải quyết một sự tranh chấp.

Như đã đề cập, mỗi giao dịch trong cuộc sống thì sách vở gọi là quan hệ xã hội. Gọi như thế là để trừu tượng hóa các loại giao dịch thành một. Tương tự, nó cũng được gọi là “quan hệ pháp lý” hay “tương quan pháp lý”.

Nói “quan hệ pháp lý”, “pháp lý”… nhiều người dễ nghĩ đến tính chất long trọng của nó; thực ra nó chỉ là một sự việc, một vấn đề được luật quy định và bị buộc phải tuân theo. Tuân thủ luật pháp không phải vì nó là luật pháp, mà vì cái mục đích mà luật muốn phục vụ. Tôi xin mở rộng điểm này một tí để chúng ta không còn bị “hỏa mù” về “tính pháp lý”. Các bạn bằng lòng chứ?

Khi nghe ai nói Luật Thừa kế quy định về các điều kiện hình thức và nội dung của bản di chúc để cho nó có giá trị pháp lý, không được sai sót. Nghe thế, ta thường sợ vì là “pháp lý”! Hãy khoan! Ta đặt câu hỏi: “Có giá trị với ai?” “Có phải với cơ quan chính quyền hay tòa án?” Thoạt nghĩ, bạn sẽ bảo ”với tòa án”, với “luật pháp”. Nghĩ kỹ hơn thì không phải vậy. Luật pháp hay tòa án có tranh chấp di sản với người thừa kế đâu; mà chính là các người kia với nhau và họ đem nhau ra tòa đấy chứ.  Bên bảo “di chúc không có giá trị”; bên nói “có chứ”. Thực sự họ tranh chấp nhau về tài sản thừa kế; còn hình thức di chúc chỉ là cái cớ. Vậy tòa án phải quyết định hình thức di chúc đúng hay sai? Nhìn ra trước các sự tranh chấp kia, luật quy định các điều kiện của di chúc. Cứ soạn đúng như thế  thì khỏi cãi nhau!  Suy ra, “giá trị pháp lý của bản di chúc” là loại bỏ tranh chấp.

Nhấn mạnh tính pháp lý của tờ di chúc vì tính chất long trọng của nó là chưa hiểu luật. Các quan chức hành chánh thường làm như thế. Là luật sư bạn cần nắm rõ vấn đề. Nếu các thừa kế nhìn nhận bản di chúc là ý muốn của bố mẹ họ, thì việc chứng thực mà luật buộc trở thành vô nghĩa!

Trở lại đề tài, quan hệ xã hội hay tương quan pháp lý tạo ra tư cách. Tư cách ấn định trách nhiệm và quyền lợi. Quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Đó là các “bí mật” của luật pháp. Khi xem hợp đồng của khách hàng giao, bạn sẽ hoán chuyển: giao dịch cam kết thành vụ việc – các bên thành tư cách mỗi người. Nắm được tư cách, bạn sẽ bảo vệ được thân chủ mình vì biết ông ta có quyền lợi gì và với ai. Tư cách giúp mở tung vấn đề.

Tuy nhiên, sau khi xem một giao dịch thì ta cũng phải xác định nó nằm trong lãnh vực nào: dân sự (trách nhiệm theo nghĩa vụ; theo hợp đồng và ngoài hợp đồng, lao động, thương mại); hành chính, hay hình sự. Thông thường, trách nhiệm dân sự buộc phải thực thi bằng tiền nếu vi phạm; trách nhiệm hành chánh thì cũng bằng tiền hay phải chấm dứt hoạt động; trách nhiệm hình sự thì bằng tiền, tù hay cả hai, tùy sự vi phạm. Câu viết ”tôi cam kết sẽ chịu mọi trách nhiệm” thì thực sự chỉ là một trong ba loại trách nhiệm trên.

II. Vận dụng luật pháp 

Ở đây tôi chỉ đề cập LDS tức là trách nhiệm dân sự.

Các bạn đã học luật vậy đương nhiên các bạn biết luật. Đó là mức độ thứ nhất của người đã học luật. Khám phá ra “bí mật của luật” như tôi đã kể ở trên – mà đó là phần rất nhỏ – thì là bước đầu cho sự hiểu luật. Khi hiểu luật nhiều thật nhiều thì bạn dạy luật được. Vậy hiểu luật là mức độ thứ hai. Nhưng chỉ ở mức này thì chưa giúp gì được cho việc tái lập trật tự xã hội mà đã bị phá vỡ do sự vi phạm luật của một ai đó. Một phần trong vai trò của luật sư là tái lập trật tự.

Tái lập trật tự xã hội về mặt dân sự là làm sao cho người thiệt hại được bồi thường. Vậy ngoài hai bên liên can phải có người thứ ba và bằng chứng, để giải thích, hay bắt buộc “người vi phạm” đền cho “nạn nhân” và người này phải biết vận dụng luật. Luật sư và thẩm phán nói chung (bao gồm kiểm sát viên) làm việc này. Ở đây tôi chỉ đề cập luật sư.

Trở lại chậu hoa rơi thì việc vận dụng luật là:

(i) Xác định ngành luật, phân tích khung cảnh (thời gian, không gian, chủ nhân) của sự việc chậu hoa hoa rơi, khiến gây thương tích;

(ii) Người phải chịu trách nhiệm, chiếu theo quy định về “cây cối gây ra” hay “sức khỏe bị xâm phạm”;

(iii) Bằng chứng; và

(iv) Mối liên hệ nhân quả.

Chọn ra một điều khoản nhất định của một văn bản luật nào đó áp dụng cho một sự việc nhất định, với những người nhất định, để ấn định trách nhiệm hầu tái lập trật tự là vận dụng luật pháp. Một người hiểu luật có thể có một trình độ cao, như tiến sĩ luật; nhưng sự hiểu biết ấy khó áp dụng trong thực tế vì luật chỉ áp dụng cho những người và cảnh nhất định đã xảy ra và phải làm sao thuyết phục được các người liên quan, vốn ít hiểu luật.

Tôi xin lấy một thí dụ để làm rõ các mức độ: Biết luật, hiểu luật và vận dụng luật qua một số hành vi bị luật điều chỉnh. Ấy là: đi xe, quẹo xe và tránh xe ngược chiều. Luật Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định thế này.

“Điều 9. Quy tắc chung

Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
…………

Điều 15. Chuyển hướng xe

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.

4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất.

Điều 17. Tránh xe đi ngược chiều

1.Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình.

2. Các trường hợp nhường đường khi tránh nhau quy định như sau:

a) Nơi đường hẹp chỉ đủ cho một xe chạy và có chỗ tránh xe thì xe nào ở gần chỗ tránh hơn phải vào vị trí tránh, nhường đường cho xe kia đi;

b) Xe xuống dốc phải nhường đường cho xe đang lên dốc;

c) Xe nào có chướng ngại vật phía trước phải nhường đường cho xe không có chướng ngại vật đi trước.

3. Xe cơ giới đi ngược chiều gặp nhau không được dùng đèn chiếu xa.”

Áp vào ba mức độ đã nêu thì:

1. Biết luật.

Là biết các quy định trên trong thực tế. Đi xe máy trên đường (tham gia giao thông) thì phải đi như thế nào; lúc quẹo phải làm gì; và tránh xe đi ngược chiều thế nào.

2. Hiểu luật.

Một người hiểu luật thì biết rằng luật kia nhằm giữ cho mọi người an toàn khi đi đường. Nguyên tắc chung là mỗi người phải ở bên phải theo chiều đi của mình và khi đi như thế thì có ưu tiên vì được người khác nhường. Ai không nhường là vi phạm luật dù chưa đụng ai; còn mình đi không đúng thì cũng phạm luật dù cảnh sát chưa bắt.

Khi muốn rẽ tay phải hay tay trái thì phải giảm tốc độ và ra dấu hiệu báo hướng rẽ. Hơn nữa, khi rẽ thì nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ rẽ khi thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác. Phải làm như thế vì mất ưu tiên khi đi.

Nếu đi trên cầu xuống thì phải nhường đường cho xe đang lên dốc cầu. Phải làm vậy vì khi xe mình đi xuống, thì không phải đạp, hay không phải nhấn ga; tức là được an nhàn, kiểm soát được xe mình, và vì thế khó bị ngã. Trong khi ấy, khi người đi lên dốc cầu phải làm ngược lại, bánh trước cao, bánh sau thấp, khó kiểm soát  nên dễ bị ngã. Luật áp dụng đạo đức con người là người mạnh phải nhường cho người yếu.

Người hiểu luật sẽ giải thích các quy định của luật, tại sao nó có và có thể mở rộng thêm bằng cách giảng luân lý, người đối xử với người; hay tập tục trên thế giới về việc lái xe theo bên phải hay bên trái. Lúc đó sẽ là thầy giáo giỏi.

3. Vận dụng.

Người vận dụng luật là khi phải giải quyết một vụ tranh chấp. Thí dụ, anh A đang đi xe đạp bên tay phải trên đường Cách mạng Tháng Tám, khu quận 3, gần đến ngã tư Võ Văn Tần. Đến sát ngã tư, A bị ngã vì B đi xe máy, vượt lên để rẽ phải, áp sát và đụng anh ta. B thấy đèn vàng bèn chạy nhanh lên vì có bảng ghi “Cấm rẽ phải khi đến đỏ”. A đến nhờ bạn thưa B.

Muốn làm bạn phải vận dụng luật, giống như trình bày ở vụ chậu hoa rơi. (Tôi không thể dùng vụ lai chậu hoa rơi ở đây được vì nó không có thí dụ cho việc biết và hiểu luật). Bạn phải xác định ngành luật phù hợp. Ở đây bạn không nhảy sang Bộ Luật Hình sự (Điều 108); mà phải tìm Luật Giao thông đường bộ. Bạn sẽ thấy B vi phạm Điều 15.2. Vậy là xác định vi phạm (hành vi bị điều chỉnh). Đi tiếp, bạn phải tìm cách để B đền tiền cho A? Bạn không thể làm một luận án như tiến sĩ ở đây! Luật sư khác tiến sĩ ở chỗ này. Bạn sẽ vận dụng điều 15.2 kia vào trường hợp cụ thể,  tức là của A.

Để vận dụng luật bạn phải biết đặt câu hỏi pháp lý. Đặt câu hỏi như thế là một vấn đề căn bản của mọi luật sư. Và bạn phải làm sau khi đã xem xét nội vụ.

Câu hỏi ấy có thể là: “B có vi phạm luật không?”. Thường thì các bạn hỏi như vậy. Hỏi như thế, đối tượng bạn nhắm vào là luật pháp, tức là Điều 15.2 kia (vi phạm luật mà). Nhưng ở đây là A cơ. Vậy bạn nên hỏi: “Khi làm A ngã, thì B đã đi phải hay đi trái?” Đi phải hay trái cũng là dựa theo luật, nhưng bạn đã đưa A vào cuộc. Thực ra, hỏi theo câu trước hay sau thì cũng là đặt câu hỏi pháp lý vì chúng đều dựa vào luật. Nhưng cách sau cho câu trả lời nhanh hơn.

Hỏi theo câu đầu thì câu trả lời lần lượt theo logic sẽ là: (i) B có vi phạm luật; (ii) vì luật buộc B phải nhường quyền đi trước cho người người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, tức là A; (iii) vậy B phạm lỗi với A và phải đền cho A. Bạn thấy không, bạn nhắm vào luật thì bạn phải nêu luật ra, rồi mới đưa B vào được.

Hỏi theo cách sau thì câu trả lời là: B đi trái luật nên làm ngã A; vậy phải đền cho A. Trong câu hỏi sau bạn nhắm vào B, nên câu trả lời nhanh hơn, xác định vi phạm rõ hơn.

Bạn có thể phản đối tôi, vì thế tôi nói “nên hỏi”. Ai giải quyết vấn đề đúng và nhanh thì hiệu quả hơn người làm chậm. Luật sư là một người làm kỹ thuật. Luật là một thực tế. Ai làm hiệu quả hơn thì người ấy giỏi.

Vậy, khi đọc bài này xong, bạn có thể biết mình đang ở mức độ nào. Vai trò của luật sư là vận dụng luật pháp. Chúng ta dễ gặp người biết luật; nhưng họ thường chưa hiểu luật; còn vận dụng được thì phải mất nhiều công. Bởi thế các tòa án ở Mỹ, họ chỉ cho phép luật sư tham dự các vụ tranh chấp. Sở dĩ vậy vì luật sư biết cách đặt câu hỏi pháp lý, biết cách tranh tụng để đưa ra chân lý, giúp tòa ra bản án chấp chóng vánh và thuyết phục. Dạy cách vận dụng luật chưa được chú trọng trong các trường luật của ta. Các bạn nên biết cách này, nếu muốn hành nghề thành công. Tôi sẽ trở lại với các bạn trong các đề tài khác. Các bạn có thể trao đổi với tôi về đề tài này, nếu muốn. Ngồi uống nước ở sân trước của Đoàn (Một chiều mưa tầm tả chẳng hạn… nhưng ai rủ thì phải bao tôi).

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích (Công ty Luật HD DC)

Nguồn: http://www.hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?CatPK=2&NewsPK=63

Advertisements

Những yếu tố giúp bạn trở thành một luật sư giỏi

Để trở thành một Luật sư giỏi, ngoài những kiến thức pháp lý (luật nội dung- luật hình thức), người Luật sư còn cần phải có những kỹ năng nghề nghiệp vững chắc.

  1. Đạo đức nghề nghiệp:

Là một luật sư nói riêng và người làm trong lĩnh vực pháp luật nói chung thì nhất thiết bạn phải có đạo đức – chính trị tốt, luôn trung thành với sự thật. Người ta vẫn ví những người làm trong lĩnh vực tư pháp là những người có thể đổi trắng thay đen, biến một người có tội nặng thành tội nhẹ, tội nhẹ thành vô tội và ngược lại. Cũng có câu ví luật sư như những con rắn có cái lưỡi không xương uốn éo sẵn sàng giối trá. Câu nói này xuất phát từ hiện tượng có không ít người đã vì lợi ích cá nhân mà dám bóp méo sự thật. Những người như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị pháp luật trừng trị. Nghề nào cũng cần phải có đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên nghề luật là nghề cần thiết hơn cả. Sự trung thực với sự thật, trung thành với luật pháp của những người luật sư sẽ góp phần làm cho xã hội trong sạch hơn. 

  1. Kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, giải quyết vấn đề:

 Người ta vẫn thường hay gọi luật sư là các thầy cãi cũng bởi nghề luật là nghề nói, nghề cãi. Vì vậy kỹ năng giao tiếp cũng như kỹ năng thuyết phục, diễn giải vấn đề 1 cách khúc chiết luôn là những kỹ năng quan trọng nhất. Hãy thử tưởng tượng xem, trong 1 phiên tòa mà vị luật sư cứ nói ấp a ấp úng, diễn đạt lủng củng, không rành mạch… thì liệu thân chủ của anh ta có bao nhiêu phần trăm thắng cuộc? Để có được những kỹ năng này, bạn cần phải chịu khó rèn luyện ngay từ bây giờ. Hãy tập nói 1 mình trước gương hay cùng 1 vài người bạn tập hợp lại để tranh luận về một vấn đề cùng quan tâm. Bạn cũng có thể tham gia các khóa học về kỹ năng giao tiếp, thuyết trình. Một điều nữa là trước khi diễn thuyết, bạn nên tìm hiểu thật kỹ vấn đề mình sẽ nói, lên dàn bài cho nội dung mình sẽ nói…

  1. Tư duy phân tích, tổng hợp, phán đoán, và tư duy logic:

Bạn cần phân tích các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó xâu chuỗi tất cả những hành vi này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, là điều cốt lõi của vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp. Tất cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đem cách suy nghĩ cảm tính vào được.Sự hiểu biết về tâm lý con người nói chung và tâm lý tội phạm nói riêng cũng sẽ giúp cho những luật sư dễ dàng tìm ra nguyên nhân của những hành vi phạm tội. 

  1. Ngoại ngữ:

Bên cạnh những điều kiện, kỹ năng trên, bạn cũng cần phải có trình độ ngoại ngữ tốt để có thể làm việc tốt trong thời đại hội nhập ngày nay. Là một luật sự giỏi, bạn hoàn toàn có thể tham gia vào các vụ kiện tụng mang tính chất quốc tế hay các vụ kiện tụng có sự tham gia của người nước ngoài ở Việt Nam. Những vụ như vậy sẽ đem lại cho bạn rất nhiều kinh nghiệm cũng như một khoản thù lao không nhỏ đó. Đừng để rào cản ngôn ngữ mà hạn chế khả năng, cơ hội của mình.

      5. Phần Mở Rộng – Kỹ năng và giá trị cần có của luật sư tại Mỹ:

Báo cáo MacCrate về tình hình giáo dục và công tác đào tạo của Ban Giáo dục Pháp luật và Công nhận Luật sư của Hội Luật gia Hoa Kỳ vào năm 1992 đã đưa ra những kỹ năng và giá trị có ý nghĩa vô cùng quan trọng để có thể hành nghề luật sư một cách thành thạo. Báo cáo này được công nhận trong toàn nước Mỹ như văn bản quan trọng trong vấn đề phát triển đội ngũ luật sư.

  • Các kỹ năng:

–       Giải quyết vấn đề;

–       Phân tích và suy luận pháp lý;

–       Nghiên cứu pháp luật;

–       Điều tra thực tế; giao tiếp;

–       Tư vấn;

–       Thương lượng;

–       Kiến thức về tranh tụng và các thủ tục giải quyết tranh chấp;

–       Tổ chức và quản lý công việc pháp lý;

–       Nhận biết và giải quyết các tình huống khó xử về đạo đức. 

  • Các giá trị:

–       Đại diện theo đúng thẩm quyền;

–       Đấu tranh thúc đẩy công lý, công bằng và đạo đức;

–       Tự phát triển về chuyên môn.

Dẫn độ & nguyên tắc của dẫn độ tội phạm

Gần đây, một loạt sự việc liên quan như vụ việc Bộ ngoại giao Đức cáo buộc Việt nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức đưa về VN, sự kiện vị nữ thủ tướng Thái Lan Yingluk Shinawatra chạy trốn, Dương Chí Dũng …

Chắc hẳn nhiều người cũng như tôi thắc mắc, tại sao có trường hợp khi phạm tội nghiêm trọng ở nước này. Nếu có thể chạy trốn sang 1 quốc gia khác mà được quốc gia đó “bảo vệ” thì nước sở tại không thể dẫn độ về được.

Vậy dẫn độ là gì?

Hiểu đơn giản: Theo tôi “dẫn độ” (Extradition)  đem phạm nhân  công dân nước mình đã phạm tội trên phạm vi quốc tế hoặc đang bị truy nã, đang lưu trú tại một nước khác về nước để xét xử theo luật của nước mình. Thực ra hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về khái niệm dẫn độ, ở mỗi quốc gia, mỗi thời kì thì cách tiếp cận khái niệm này lại khác nhau, có thể hiểu một cách đơn giản nhất về khái niệm dẫn độ như sau: “Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó” (Theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007).

Từ khái niệm phân tích trên, ta có thể nhận thấy dẫn độ tội phạm có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, dẫn độ là việc một nước chuyển giao một người phạm tội cho một quốc gia khác. Việc chuyển giao phải được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của nước có yêu cầu. Người bị dẫn độ là người đã thực hiện hành vi phạm tội, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án bằng một bản án, sau đó bỏ trốn sang nước được yêu cầu.

Thứ hai, dẫn độ chỉ được thực hiện khi có yêu cầu dẫn độ từ một quốc gia. Nước mà người phạm tội mang quốc tịch, nước nơi hành vi phạm tội xảy ra, nơi tội phạm hoàn thành, hoặc nước có quyền lợi bị tội phạm xâm phạm đều có quyền yêu cầu dẫn độ. Việc chấp hay không chấp nhận dẫn độ sẽ do quốc gia được yêu cầu dẫn độ quyết định dựa trên các điều ước quốc tế liên quan pháp luật quốc gia và tình hình tội phạm trên thực tế.

Thứ ba, dẫn độ nhằm hai mục đích: truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người phạm tội; các hoạt động này sẽ do quốc gia yêu cầu tiến hành sau khi tiếp nhận người bị dẫn độ từ quốc gia được yêu cầu. Pháp luật Việt nam đã quy định rõ tại khoản 2 Điều 32 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.

Thứ tư, dẫn độ thường được thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặc mức độ quan hệ giữa các quốc gia.

Tham khảo thêm trên: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1789 nhé mọi người.

Tiếp theo nguyên tắc của dẫn độ là gì? Và thực thi nó như thế nào. Tôi xin copy lại bài viết của LS để bàn luận về vấn đề này, cũng gọi là tích lũy kiến thức. Trước khi bắt đầu vào học lớp Luật sư trong tháng 09 tới

Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế cũng như hoạt động dẫn độ tội phạm. Chủ quyền quốc gia là tối cao và bất khả xâm phạm thể hiện qua quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Khi nhận được một yêu cầu dẫn độ tội phạm, quốc gia nhận được yêu cầu có quyền từ chối hay chấp nhận tùy vào pháp luật dẫn độ của nước mình hay các điều ước quốc tế mà mình đã kí kết hoặc tham gia. Quốc gia yêu cầu chỉ được tiếp nhận đối tượng sau khi quốc gia được yêu cầu thực hiện xong các hoạt động liên quan đến dẫn độ.

Nguyên tắc có đi có lại

Đây là nguyên tắc pháp lý cần thiết để đảm bảo việc dẫn độ tội phạm có hiệu quả. Nội dung của nguyên tắc này quy định: nước được yêu cầu dẫn độ sẽ chấp nhận dẫn độ với sự đảm bảo rằng nước có yêu cầu giúp đỡ cũng sẽ chấp nhận và thực hiện một yêu cầu như vậy của nước được yêu cầu trong tương lai. Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng quyền bình đẳng và chủ quyền giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nguyên tắc này không đồng nghĩa với sự trao đổi ngang bằng và ngay lập tức, mà tùy từng trường hợp để quyết định có thực hiện yêu cầu hợp tác của bên đối tác hay không.

Nguyên tắc định tội danh kép

Đây là nguyên tắc đặc thù trong dẫn độ tội phạm được hầu hết các nước áp dụng. Đối tượng bị yêu cầu dẫn độ sẽ được dẫn độ khi hành vi của họ được định danh là hành vi tội phạm theo luật quốc gia của cá nước yêu cầu và nước nhận được yêu cầu dẫn độ. Không đáp ứng được yêu cầu này, các quốc gia có quyền từ chối dẫn độ.

Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình

Nguyên tắc này đã đươc ghi nhận trong hiệp định của Hội đồng châu âu 1957 về dẫn độ tội phạm, trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các quốc gia, trong hiến pháp và luật quốc tịch của các nước. Đối tượng bị dẫn độ là các cá nhân đã thực hiện hành vi phạm tội và bị xét xử hành vi tội phạm này hoặc người bị tình nghi thực hiện hành vi tội phạm đang lẩn trốn ở ngoài lãnh thổ của quốc gia yêu cầu dẫn độ.

Nguyên tắc không dẫn độ người phạm tội về chính trị

Nguyên tắc này được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế đa phương, song phương về tương trợ tư pháp giữa các quốc gia và trong luật quốc gia của các nước. Tuy nhiên, khái niệm về tội phạm chính trị cũng chưa được dưa ra rõ ràng. Tính chất chính trị của tội phạm có được đề cập tới bằng phương thức xác định chế định dẫn độ tội phạm là chế định đối lập với chế định cư trú chính trị. Nguyên tắc cũng có ngoại lệ là: thủ phạm giết hại nguyên thủ quốc gia, người đứng đàu chính phủ hoặc các nhà lãnh đạo cao cấp khác của quốc gia không được hưởng quyền không bị dẫn độ sau khi thực hiện hành vi phạm tội.

Hà Nội ngày 31/08/2017

 

5 nhầm lẫn về nghề luật cần biết trước khi quyết định trở thành Luật Sư

1. Trở thành Luật Sư là tấm vé bảo đảm cho thành công vươt trội về mặt tài chính / Làm Luật Sư không đủ sống.

Cả hai quan điểm có thể đúng ở một số trường hợp, nhưng nếu muốn cân nhắc theo nghề Luật Sư, bạn cần phải bỏ qua cả hai định kiến này.

Tại các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Luật Sư luôn có mặt trong top những nghề được trả lương hậu hĩnh nhất; song những mức lương này đều đến từ các mega-firm (những hãng luật duy trì hơn 101 Luật Sư) và chỉ đại diện cho khoảng 1% toàn bộ hãng luật tại Hoa Kỳ theo số liệu của American Bar. Vì vậy, dù nghề Luật Sư là một nghề được kính trọng và sống tốt tại các quốc gia phát triển, nó chưa hẳn khiến mặt bằng chung các Luật Sư đều là những người giàu có.

Ngược lại, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, quan niệm cho rằng Luật Sư là một nghề không đủ sống cũng rất sai lầm và có thể cản bước tiến của một số bạn trẻ có nguyện vọng. Theo một số thống kê gần đây, các Luật Sư đứng đầu bộ phận pháp chế của các công ty và tập đoàn hoàn toàn có thể hưởng mức lương hàng trăm triệu (VND) mỗi tháng. Những Luật Sư hành nghề nhiều kinh nghiệm và có danh tiếng có thể vượt ngưỡng này.

Tuy nhiên, nếu xét phổ lương từ năm triệu cho đến khoảng mười triệu (VND) dành cho các sinh viên luật vừa ra trường; mức lương trung bình này khá thấp so với các ngành như Marketing, Quản trị kinh doanh hoặc Tài chính, Ngân Hàng với trình độ tương đương.

Vì vậy, nghề Luật Sư là một nghề rất cần kinh nghiệm và sự kiên nhẫn để theo đuổi, hãy cân nhắc lại việc theo nghề này nếu bạn muốn làm giàu nhanh chóng.

2. Luật Sư là những người cãi nhau giỏi / Cãi nhau giỏi thì có tố chất làm Luật Sư

Một định kiến thường gặp trong xã hội về nghề Luật Sư. Có lẽ nhiều người sẽ bất ngờ rằng cãi nhau và nghề Luật Sư (ở Việt Nam thậm chí được gọi là nghề thầy cãi) không có cái mối liên kết chặt chẽ như mong đợi.

Trước tiên, cãi vã là quá trình tranh luận thường ngày sử dụng nhiều tiểu xảo ngôn ngữ và logic, mà theo ngôn ngữ khoa học có thể gọi tên như “công kích cá nhân”, “đánh tráo khái niệm” hay “sử dụng sai tam đoạn luận”. Nói cách khác, cãi nhau là quá trình các bên đàn áp lập luận lẫn nhau một cách không hệ thống nhằm đạt đến chiến thắng cho tự mãn cá nhân.

Việc hành nghề của Luật Sư, ngược lại, nhắm vào sự thuyết phục. Điều này được thể hiện ở cả kỹ năng viết và kỹ năng nói, có đối tượng là khách hàng, đối tác giao dịch của khách hàng (trong quá trình tư vấn) và nhắm đến bồi thẩm đoàn, hội đồng xét xử (trong quá trình tranh tụng).

Hiển nhiên việc phản biện thành công lập luận của Luật Sư đối lập (hoặc các vị trí khác) là cần thiết, nhưng mục đích cao nhất của các cuộc tranh luận cũng nhằm đi đến mục tiêu tối thượng là thuyết phục hoặc thỏa hiệp với một chủ thể nào đó. Vì vậy, các “kỹ năng” cãi nhau thuần túy ít khi mang lại lợi ích cho Luật Sư cũng như thân chủ của họ.

3. Luật Sư cần thuộc lòng quy phạm pháp luật

Theo đánh giá của nhiều luật sư, đây có lẽ là lầm tưởng thường gặp nhất của xã hội đối việc học luật và Luật Sư.

Dù không thiếu các Luật Sư chuyên ngành hoặc nhiều năm kinh nghiệm có thể nhớ chi tiết các điều khoản của một số văn bản pháp luật, điều này không đồng nghĩa với việc họ có thể thuộc lòng toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật; và cũng không đồng nghĩa với việc hành nghề Luật Sư nói chung cần thiết phải như vậy.

Thực tế, người Luật Sư cần hiểu rõ bản chất, nguyên tắc và phương pháp áp dụng của quy định pháp luật. Ví dụ cụ thể, đối với các Luật Sư hình sự, việc ghi nhớ các quy định trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự sẽ không giúp ích gì cho quá trình hành nghề. Thay vào đó, họ cần phải hiểu và nắm rõ các cấu thành tội phạm, đặc trưng cần phân biệt giữa những loại tội phạm cũng như bản chất của từng giai đoạn tố tụng.

Trí nhớ tốt là một điểm cộng lớn cho người Luật Sư (cũng như đối với nhiều ngành nghề khác), nhưng đây không phải là tố chất quyết định của quá trình hành nghề luật.

4. Luật Sư luôn đối mặt với những thử thách trí tuệ hào hứng

Hành nghề Luật Sư đòi hỏi một sự sẵn sàng cao độ về lý trí cũng như thể chất, các công việc cũng cần đầu tư chất xám một cách bắt buộc và nghiêm túc. Tuy nhiên, đa phần các công việc thường ngày của các Luật Sư lại mang tính chất nhàm chán và lặp lại.

Điều này đặc biệt đúng nếu xét tới trường hợp của các sinh viên mới ra trường hoặc Luật Sư vừa vào nghề tại các hãng luật có quy mô, khi công việc của họ thường xuyên là những nhiệm vụ chi tiết, vi mô như rà soát văn bản, kiểm tra trích dẫn, tổng hợp tài liệu – hồ sơ, soạn thảo thư trả lời liên lạc thường ngày.

Kể cả đối với các Luật Sư đứng đầu, vì lý do hiệu quả kinh tế, yêu cầu thời gian của khách hàng và bản chất vụ việc (đặc biệt đối với các Luật Sư doanh nghiệp, thương mại), họ buộc phải xây dựng một hệ thống hồ sơ mẫu, tình huống và văn bản tư vấn tiền lệ để có thể tham khảo hoặc sử dụng trực tiếp nếu phù hợp.

Cho những bạn trẻ mong muốn theo nghề luật vì nghĩ rằng đây là một nghề nghiệp năng động và vinh quang như trong các sản phẩm của Hollywood, các bạn cần suy nghĩ lại. Có thể nói 95% công việc của một Luật Sư (kể cả tư vấn lẫn tranh tụng) nằm trên bàn giấy.

5. Là Luật Sư, tôi có thể loại bỏ sự bất công và ảnh hưởng đến các thay đổi xã hội.

Quan điểm này không sai, nhưng không thể gọi là chính xác nếu cân nhắc nó là một yếu tố để lựa chọn nghề Luật Sư.

Với tư cách là Luật Sư, một trong những nghĩa vụ nghề nghiệp là bảo vệ người yếu thế, bảo vệ công lý và hỗ trợ quá trình cải cách tư pháp. Sự có mặt của Luật Sư trong các phiên toàn hình sự cũng là một hình thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy nhiên, các công việc thông thường hằng ngày như hoạt động tư vấn thương mại, hỗ trợ giải quyết tranh chấp thương mại hay kể cả bảo vệ thân chủ trong một phiên tòa hình sự ít khi liên quan đến việc chiến thắng của cái thiện với các ác mà chỉ là vấn đề của sự thật khách quan và áp dụng văn bản pháp luật có hiệu lực.

Lựa chọn Văn phòng Công chứng như thế nào, hợp lý với bạn?

Dịch vụ công chứng từ khi được xã hội hóa đến nay đã thực sự trở thành dịch vụ cần thiết và ngày càng phát triển ở Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn. Nhu cầu công chứng của mỗi người dân cũng ngày càng cao. Riêng ở Hà Nội đã có hơn 100 Văn phòng công chứng. Vậy nên lựa chọn Văn phòng công chứng như thế nào để tiết kiệm thời gian, hiệu quả và cảm thấy thoải mái? Bài viết hôm nay tôi sẽ chia sẻ về vấn đề này.

Việc công chứng tôi đề cập trong bài viết này khác với chứng thực hay xác nhận ở UBND các cấp nhé. Bạn muốn chứng thực hộ khẩu hoặc xác nhận các thông tin về nhân thân như: khai sinh, chứng tử, quan hệ vợ chồng, quan hệ cha, mẹ, con… thì bạn không có quyền lựa chọn mà buộc phải đến UBND cấp có thẩm quyền (chẳng hạn UBND xã, phường… nơi bạn cư trú). Nhưng việc công chứng tôi nói trong bài viết này thì bạn có quyền lựa chọn nơi mà bạn ưng ý nhất.

1. Trước tiên bạn hãy phân biệt Phòng công chứng và Văn phòng công chứng

Nói một cách đơn giản và dễ hiểu nhất thì Phòng công chứng là của nhà nước, thường được quen gọi là công chứng nhà nước. Còn Văn phòng công chứng là của tư nhân, thường quen gọi là công chứng tư. Vậy nên khi đi công chứng bạn để ý tên của tổ chức công chứng đó, nếu là “Phòng” thì là của Nhà nước còn nếu là “Văn phòng” thì của tư nhân. Ngoài ra Phòng công chứng thường đặt tên theo số, VD Phòng công chứng số 1, số 2, số 3…

Về cơ bản chỉ khác nhau tên gọi và chủ sở hữu vốn thôi, cách thức hoạt động liên quan đến khách hàng công chứng hoàn toàn giống nhau. Còn để đánh giá cái nào tốt hơn cái nào thì còn phải xét thêm nhiều yếu tố nữa.

Trong bài viết này tôi gọi tắt tất cả bằng từ VPCC cho tiện.

2. Có hướng dẫn thủ tục cho bạn mà chưa cần xem giấy tờ hay không?

Thông thường trước khi đi công chứng bạn thường muốn hỏi thủ tục trước, sau đó khi lựa chọn được nơi công chứng rồi thì mới mang giấy tờ qua. Nhưng không phải nơi nào cũng chịu khó giải thích thủ tục cho bạn khi chưa có giấy tờ. Khi đó họ thường bảo bạn đại ý là mang giấy tờ qua rồi họ sẽ nói cụ thể. Điều đó không phải do khả năng hay trình độ mà có lẽ chỉ là do họ muốn tư vấn chính xác hơn cho bạn mà thôi.

Tuy nhiên có rất nhiều VPCC sẵn sàng tư vấn cặn kẽ, chi tiết cho bạn khi bạn chỉ đến hỏi hoặc thậm chí hỏi qua điện thoại thôi mà chưa cần phải mang bất cứ giấy tờ nào đến. Hãy ưu tiện chọn những VPCC như vậy.

3. Tư vấn và hướng dẫn có rõ ràng, dễ hiểu hay không?

Bạn thích một người tư vấn nhiệt tình, nhiều nội dung và nhiều giải thích hay một người tư vấn ngắn gọn và đúng trọng tâm?

Tuy cách thức và khả năng diễn đạt của mỗi người là khác nhau nhưng các công chứng viên (CCV) và chuyên viên của VPCC đều được đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật chuyên nghiệp. Đúng là những người tư vấn nhiệt tình thường gây được nhiều thiện cảm hơn nhưng theo tôi, bạn nên ưu tiên chọn VPCC tư vấn một cách gọn gàng, đúng câu hỏi, và quan trọng là bạn cảm thấy dễ hiểu là được. Nhiều khi việc giải thích nhiều vấn đề sẽ làm bạn thấy rối hơn khi được tư vấn xong.

4. Giá cả, phí dịch vụ có rõ ràng hay không?

Phí dịch vụ là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với mỗi khách hàng đến công chứng. Theo quy định thì các VPCC đều phải công khai niêm yết các loại phí tại trụ sở. Nhưng không phải lúc nào bạn cũng có thời gian xem và hiểu được bảng phí đó. Vậy nên nếu bạn hỏi tư vấn dù trực tiếp hay qua điện thoại thì cũng đừng ngần ngại mà hỏi các chi phí cụ thể cho việc công chứng của bạn, công chứng thì ngoài phí nhà nước theo quy định, còn có thể có các loại phí như: phí soạn thảo, phí ký ngoài trụ sở, phí ký ngoài giờ…

Bạn nên ưu tiên chọn những VPCC có sự tư vấn rõ ràng các loại phí. Rõ ràng ở đây không nhất thiết phải là một con số cụ thể, bởi vì còn phụ thuộc vào hồ sơ và giá trị tài sản của bạn khi công chứng nữa. Mà rõ ràng thể hiện ở việc bạn hiểu được với vụ việc của bạn thì có những phí gì, cách tính như thế nào, tổng chi phí hết khoảng bao nhiêu tiền…

Bạn cũng lưu ý là VPCC sẽ có một bộ phận kế toán riêng để tính các chi phí, vậy nên nhiều khi người tư vấn cho bạn sẽ không nhớ hết được mà phải hỏi bộ phận kế toán. Do đó có thể họ sẽ hẹn gọi lại và thông báo chi phí cho bạn sau. Đó là việc rất bình thường, không có gì “mập mờ” đâu.

5. Thái độ phục vụ và thực hiện công việc như thế nào?

Công chứng cũng là một dịch vụ, đó là một loại dịch vụ pháp lý. Nhưng không giống như cơ quan hành chính nhà nước, bạn không có quyền lựa chọn, thì ngược lại dịch vụ công chứng cũng như rất nhiều dịch vụ khác trong xã hội, khi đi công chứng bạn là khách hàng và bạn trả tiền để được phục vụ. Vậy nên bạn có quyền được hưởng một dịch vụ tốt và chất lượng, phù hợp với số tiền mà bạn bỏ ra. Nếu không, bạn có quyền tự do lựa chọn bất kỳ một VPCC nào khác.

Bạn biết điều này và VPCC cũng như các công chứng viên cũng đều hiểu điều này. Vậy nên sẽ không bao giờ có chuyện VPCC gây khó khăn hay cửa quyền với bạn. Nếu như có một lúc nào đó bạn cảm thấy như vậy, bạn hãy bình tĩnh suy nghĩ xem, có phải bạn đang “hiểu lầm” họ hay không?

Chẳng hạn, nếu bạn thấy họ yêu cầu bạn quá nhiều giấy tờ, mà bạn cảm thấy rằng không cần thiết, thì đó là do “quy định nó vậy”, họ cũng muốn bớt giấy tờ cho bạn lắm nhưng đó là quy định của pháp luật và điều quan trọng hơn, đó là để đảm bảo an toàn, hạn chế tối đa rủi ro và tranh chấp cho cả bạn và cho cả VPCC. Nếu bạn thấy giấy tờ lằng nhằng, đừng chần chừ hãy hỏi ngay là tại sao lại phải cung cấp những giấy tờ này, hỏi đến khi nào họ giải thích cho bạn hiểu thì thôi. Lúc đó bạn sẽ thấy thoải mái khi cung cấp giấy tờ cho họ.

Về cách thức thực hiện công việc thì cứ nhanh, gọn, cẩn thận và chính xác là được rồi. Cái này bạn nhìn hợp đồng họ soạn ra là sẽ đánh giá được phần nào. Thỉnh thoảng lỡ sai vài lỗi chính tả trong hợp đồng, văn bản mà bạn phải đi đính chính lại cũng không sao, chuyện bình thường thôi, không đánh giá được chất lượng VPCC ở mấy lỗi chính tả đó.

Về thái độ thì bạn cứ đánh giá dựa trên cảm nhận của bạn là chính xác rồi. Dù cảm nhận đó là chủ quan hay khách quan thì dù sao cũng phải có thiện cảm với nhau thì làm việc mới thoải mái được.

6. Mức độ nhiệt tình và dễ dàng đến đâu?

Bạn đến một VPCC mà họ cực kỳ nhiệt tình tư vấn cho bạn, thiếu giấy tờ gì họ cũng có cách giải quyết. Vụ việc, giao dịch của bạn khó khăn và phức tạp đến đâu họ cũng có thể xử lý được trong khi có thể bạn đã bị một số VPCC khác từ chối hoặc yêu cầu giấy tờ “lằng nhằng” hơn. Nói chung là kiểu gì bạn cũng sẽ công chứng được hợp đồng, giao dịch ở VPCC đó. Đương nhiên kèm theo đó sẽ là thêm một khoản chi phí khác nữa. Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy hài lòng và thoải mái hơn những nơi khác rồi. Nhưng liệu bạn có nên YÊN TÂM với hợp đồng, văn bản đã được công chứng như vậy không? Chưa chắc đâu nhé.

Sau một thời gian không ngắn được trải nghiệm các dịch vụ công chứng, và được tiếp xúc với các công chứng viên cũng như chuyên viên tư vấn, tôi nhận thấy là không giống như luật sư, sẽ chỉ bảo vệ quyền lợi tối đa cho khách hàng, thân chủ của mình, thì nhiệm vụ của các công chứng viên là phải đảm bảo an toàn tối đa cho các giao dịch, hợp đồng, văn bản mình công chứng, mà không được nghiêng về phía bên nào cả, kể cả đó là bên khách hàng đã thuê mình công chứng.

Mối quan hệ giữa VPCC và khách hàng có thể nói là “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” 😆 . Bất kỳ bên nào vô tình hay cố ý làm sai cũng sẽ gây hại cho bên còn lại.

Bạn luôn nghĩ rằng, văn bản, hợp đồng của bạn “có công chứng” là hoàn toàn yên tâm và chắc ăn rồi? Thực tế thì chưa hẳn là như vậy. Chỉ có VPCC và CCV nào ý thức được mối quan hệ “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” với khách hàng thì khi đó giao dịch, hợp đồng của bạn mới được đảm bảo an toàn và có thể yên tâm được. Đó là những VPCC và CCV có trách nhiệm và có “tâm”. Bạn có thể đặt niềm tin vào dịch vụ của họ.

Nhưng một số VPCC và CCV lại không nghĩ vậy, họ đặt việc công chứng được và thu được phí dịch vụ của khách hàng là ưu tiên số một, hoặc họ có tư duy cho rằng chỉ chứng nhận đúng là có người đó, thực hiện giao dịch đó mà không cần quan tâm đến các yếu tố pháp lý hay giấy tờ khác liên quan. Họ cho rằng khi có tranh chấp, rủi ro thì đó là việc của khách hàng, mình không có liên quan gì cả.

Thực tế là văn bản, hợp đồng đã công chứng vẫn có nguy cơ bị vô hiệu hoặc bị hủy bởi tòa án, thêm vào đó nếu như văn bản hay hợp đồng đó có những điều khoản rất bất lợi cho bạn, thì bạn sẽ có khả năng thua rất lớn khi có tranh chấp và phải ra tòa.

Như vậy có thể là cùng một giao dịch nhưng khi bạn công chứng ở VPCC này thì giao dịch của bạn sẽ an toàn nhưng nếu công chứng ở VPCC khác thì bạn lại đang phải đối mặt với nguy cơ văn bản hợp đồng bị vô hiệu hoặc rủi ro và tranh chấp cao trong tương lai.

Cách nhận biết tốt nhất trong trường hợp này có lẽ là… hỏi. Nếu bạn cảm thấy “có gì đó sai sai”, bạn hãy hỏi họ thật cụ thể và chi tiết để họ giải thích lý do, bạn hãy đặt ra nhiều tình huống và giả thiết (nếu thế này hoặc nếu thế kia thì có sao không chẳng hạn) để biết được các rủi ro có thể phát sinh. Nơi nào giải thích rõ ràng và bạn thấy vấn đề được sáng tỏ, thì bạn có thể yên tâm và tin tưởng nơi đó.

Chốt lại 1 câu: Chưa chắc VPCC yêu cầu bạn cung cấp ít giấy tờ và đơn giản đã tốt và đáng tin cậy hơn VPCC yêu cầu nhiều giấy tờ hơn đâu nhé.

7. Cách xử lý vấn đề có linh hoạt và đúng quy định?

VPCC làm việc chắc chắn cẩn thận là rất tốt rồi, nhưng nếu nguyên tắc quá thì bạn sẽ thấy hơi… nản. Nhất là khi việc xử lý một cách linh hoạt lại không hề trái luật. Tình huống cần linh hoạt phổ biến hơn cả ở các VPCC đó là thay thế một số giấy tờ. Có một số giấy tờ có thể thay thế cho nhau mà vẫn đúng quy định của pháp luật. Một VPCC biết cách tư vấn để khách hàng có thể cung cấp các giấy tờ thuận lợi hơn cho khách hàng mà vẫn đúng quy định, đảm bảo an toàn cho hợp đồng, giao dịch thì đó là một VPCC đáng để bạn tin tưởng và trả phí dịch vụ cho họ.

8. Cách giải quyết khi lỡ làm sai

Khi bạn làm bất cứ việc gì thì sai sót cũng là điều không thể tránh khỏi. Công chứng là một dịch vụ pháp lý, có thể chỉ cần một sai sót nhỏ cũng gây thiệt hại lớn cả cho khách hàng và cho công chứng viên. Vì vậy công chứng viên cũng là một nghề có sự rủi ro và tính trách nhiệm cao.

Những sai sót mà tôi nói ở đây là những sai sót không gây hậu quả nghiêm trọng và đã kịp được phát hiện ra trước khi phát hành hợp đồng công chứng, chẳng hạn như quên, thiếu 1 giấy tờ nào đó, nhầm lẫn trong văn bản, hợp đồng, giải thích sai, giải thích nhầm quy định cho khách hàng..v..v.. Những sai sót này kể cả ở những VPCC tốt nhất đi nữa thì thỉnh thoảng vẫn xảy ra (thỉnh thoảng thôi chứ thường xuyên thì “có vấn đề” rồi 😆) và nếu không may điều “thỉnh thoảng” đó lại rơi trúng vào bạn thì bạn cũng hãy cho họ cơ hội để sửa sai. Nếu như họ trung thực nhận lỗi và sửa sai một cách đàng hoàng, minh bạch và có trách nhiệm, quan trọng là bạn cảm thấy hài lòng thì đó là một VPCC tốt và đáng tin cậy. Bạn nên tiếp tục sử dụng dịch vụ của họ trong tương lai.

Còn nếu biết chắc lỗi sai là do họ rồi nhưng họ vẫn tìm cách từ chối và đổ lỗi cho ai đó, hoàn cảnh nào đó… thì bạn nên cân nhắc việc có nên tiếp tục sử dụng dịch vụ công chứng của những nơi đó hay không.

Đó là 8 điều cần lưu ý khi bạn lựa chọn VPCC để công chứng các giao dịch, hợp đồng, văn bản mà tôi muốn chia sẻ với bạn qua quá trình tiếp xúc và làm về công chứng.

DSC03358

Tóm lại, một VPCC to, hoành tráng, vị trí đẹp cũng không hoàn toàn phản ánh được chất lượng dịch vụ tương xứng. Phòng công chứng nhà nước chưa chắc đã yên tâm hơn hẳn các VPCC tư nhân.

NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUỐN MUA LẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam theo 3 trường hợp:

1/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

2/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

3/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

procedure-for-foreigner-purchase-shares-to-company1

Hoạt động mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài phải lưu ý các quy định sau:

– Việc mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện theo quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;

– Việc góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thực hiện các cam kết gia nhập WTO về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường;

– Ngoài các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư , việc góp vốn, mua cổ phần phải áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành ví dụ pháp luật về đất đai, sở hữu trí tuệ,…

Trình tự, thủ tục đối với việc Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam quy định riêng theo từng trường hợp trên đây như sau:

Trường hợp 1: nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; Theo đó, không làm thay đổi pháp nhân, chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản trong doanh nghiệp ; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo thủ tục quy định tại Điều 42 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP;

Trường hợp 2: nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; theo đó thay đổi chủ sở hữu ; doanh nghiệp Việt Nam đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều 43, 44 của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đối với các thủ tục có liên quan;

Nhà đầu tư nước ngoài báo cáo Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Nghị định 118/2015/NĐ-CP để đăng ký lại như đối với quy định cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trường hợp 3: nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh) theo quy định tại Điều 63 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

Trường hợp thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì số Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là số đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp được cấp mới theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Thông tư 16/2015/TT-BKHĐT quy định biểu mẫu thực hiện thủ tục đầu tư và báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam Và thông tư số 83/2016/TT-BTC  của Bộ Tài Chính. Các quy định về quyền được giữ lại tên doanh nghiệp, con dấu, tài khoản và mã số thuế đã đăng ký chỉ áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy phép đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực hiện đăng ký lại theo quy định của Nghị định 194/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013

Việc doanh nghiệp mua được kế thừa mã số thuế của doanh nghiệp bán thực hiện theo quy định tại Thông tư số 5/2007/TT-BTC ngày 18/07/2007 và Quyết định số 82/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về mã số đối tượng nộp thuế qui định khi có hợp đồng hoặc thỏa thuận về việc bán doanh nghiệp, thì doanh nghiệp bán phải thông báo bằng văn bản, kèm theo hợp đồng mua bán doanh nghiệp, bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký thuế và quyết toán thuế gửi cho cơ quan thuế. Mã số thuế của doanh nghiệp mua giữ nguyên là mã số của doanh nghiệp bán. Riêng trường hợp doanh nghiệp bán là doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp mua được cấp mã số thuế mới.

dich-vu-thi-hanh-ban-an-dan-su-nuoc-ngoai-tai-viet-nam