5 nhầm lẫn về nghề luật cần biết trước khi quyết định trở thành Luật Sư

1. Trở thành Luật Sư là tấm vé bảo đảm cho thành công vươt trội về mặt tài chính / Làm Luật Sư không đủ sống.

Cả hai quan điểm có thể đúng ở một số trường hợp, nhưng nếu muốn cân nhắc theo nghề Luật Sư, bạn cần phải bỏ qua cả hai định kiến này.

Tại các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Luật Sư luôn có mặt trong top những nghề được trả lương hậu hĩnh nhất; song những mức lương này đều đến từ các mega-firm (những hãng luật duy trì hơn 101 Luật Sư) và chỉ đại diện cho khoảng 1% toàn bộ hãng luật tại Hoa Kỳ theo số liệu của American Bar. Vì vậy, dù nghề Luật Sư là một nghề được kính trọng và sống tốt tại các quốc gia phát triển, nó chưa hẳn khiến mặt bằng chung các Luật Sư đều là những người giàu có.

Ngược lại, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, quan niệm cho rằng Luật Sư là một nghề không đủ sống cũng rất sai lầm và có thể cản bước tiến của một số bạn trẻ có nguyện vọng. Theo một số thống kê gần đây, các Luật Sư đứng đầu bộ phận pháp chế của các công ty và tập đoàn hoàn toàn có thể hưởng mức lương hàng trăm triệu (VND) mỗi tháng. Những Luật Sư hành nghề nhiều kinh nghiệm và có danh tiếng có thể vượt ngưỡng này.

Tuy nhiên, nếu xét phổ lương từ năm triệu cho đến khoảng mười triệu (VND) dành cho các sinh viên luật vừa ra trường; mức lương trung bình này khá thấp so với các ngành như Marketing, Quản trị kinh doanh hoặc Tài chính, Ngân Hàng với trình độ tương đương.

Vì vậy, nghề Luật Sư là một nghề rất cần kinh nghiệm và sự kiên nhẫn để theo đuổi, hãy cân nhắc lại việc theo nghề này nếu bạn muốn làm giàu nhanh chóng.

2. Luật Sư là những người cãi nhau giỏi / Cãi nhau giỏi thì có tố chất làm Luật Sư

Một định kiến thường gặp trong xã hội về nghề Luật Sư. Có lẽ nhiều người sẽ bất ngờ rằng cãi nhau và nghề Luật Sư (ở Việt Nam thậm chí được gọi là nghề thầy cãi) không có cái mối liên kết chặt chẽ như mong đợi.

Trước tiên, cãi vã là quá trình tranh luận thường ngày sử dụng nhiều tiểu xảo ngôn ngữ và logic, mà theo ngôn ngữ khoa học có thể gọi tên như “công kích cá nhân”, “đánh tráo khái niệm” hay “sử dụng sai tam đoạn luận”. Nói cách khác, cãi nhau là quá trình các bên đàn áp lập luận lẫn nhau một cách không hệ thống nhằm đạt đến chiến thắng cho tự mãn cá nhân.

Việc hành nghề của Luật Sư, ngược lại, nhắm vào sự thuyết phục. Điều này được thể hiện ở cả kỹ năng viết và kỹ năng nói, có đối tượng là khách hàng, đối tác giao dịch của khách hàng (trong quá trình tư vấn) và nhắm đến bồi thẩm đoàn, hội đồng xét xử (trong quá trình tranh tụng).

Hiển nhiên việc phản biện thành công lập luận của Luật Sư đối lập (hoặc các vị trí khác) là cần thiết, nhưng mục đích cao nhất của các cuộc tranh luận cũng nhằm đi đến mục tiêu tối thượng là thuyết phục hoặc thỏa hiệp với một chủ thể nào đó. Vì vậy, các “kỹ năng” cãi nhau thuần túy ít khi mang lại lợi ích cho Luật Sư cũng như thân chủ của họ.

3. Luật Sư cần thuộc lòng quy phạm pháp luật

Theo đánh giá của nhiều luật sư, đây có lẽ là lầm tưởng thường gặp nhất của xã hội đối việc học luật và Luật Sư.

Dù không thiếu các Luật Sư chuyên ngành hoặc nhiều năm kinh nghiệm có thể nhớ chi tiết các điều khoản của một số văn bản pháp luật, điều này không đồng nghĩa với việc họ có thể thuộc lòng toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật; và cũng không đồng nghĩa với việc hành nghề Luật Sư nói chung cần thiết phải như vậy.

Thực tế, người Luật Sư cần hiểu rõ bản chất, nguyên tắc và phương pháp áp dụng của quy định pháp luật. Ví dụ cụ thể, đối với các Luật Sư hình sự, việc ghi nhớ các quy định trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự sẽ không giúp ích gì cho quá trình hành nghề. Thay vào đó, họ cần phải hiểu và nắm rõ các cấu thành tội phạm, đặc trưng cần phân biệt giữa những loại tội phạm cũng như bản chất của từng giai đoạn tố tụng.

Trí nhớ tốt là một điểm cộng lớn cho người Luật Sư (cũng như đối với nhiều ngành nghề khác), nhưng đây không phải là tố chất quyết định của quá trình hành nghề luật.

4. Luật Sư luôn đối mặt với những thử thách trí tuệ hào hứng

Hành nghề Luật Sư đòi hỏi một sự sẵn sàng cao độ về lý trí cũng như thể chất, các công việc cũng cần đầu tư chất xám một cách bắt buộc và nghiêm túc. Tuy nhiên, đa phần các công việc thường ngày của các Luật Sư lại mang tính chất nhàm chán và lặp lại.

Điều này đặc biệt đúng nếu xét tới trường hợp của các sinh viên mới ra trường hoặc Luật Sư vừa vào nghề tại các hãng luật có quy mô, khi công việc của họ thường xuyên là những nhiệm vụ chi tiết, vi mô như rà soát văn bản, kiểm tra trích dẫn, tổng hợp tài liệu – hồ sơ, soạn thảo thư trả lời liên lạc thường ngày.

Kể cả đối với các Luật Sư đứng đầu, vì lý do hiệu quả kinh tế, yêu cầu thời gian của khách hàng và bản chất vụ việc (đặc biệt đối với các Luật Sư doanh nghiệp, thương mại), họ buộc phải xây dựng một hệ thống hồ sơ mẫu, tình huống và văn bản tư vấn tiền lệ để có thể tham khảo hoặc sử dụng trực tiếp nếu phù hợp.

Cho những bạn trẻ mong muốn theo nghề luật vì nghĩ rằng đây là một nghề nghiệp năng động và vinh quang như trong các sản phẩm của Hollywood, các bạn cần suy nghĩ lại. Có thể nói 95% công việc của một Luật Sư (kể cả tư vấn lẫn tranh tụng) nằm trên bàn giấy.

5. Là Luật Sư, tôi có thể loại bỏ sự bất công và ảnh hưởng đến các thay đổi xã hội.

Quan điểm này không sai, nhưng không thể gọi là chính xác nếu cân nhắc nó là một yếu tố để lựa chọn nghề Luật Sư.

Với tư cách là Luật Sư, một trong những nghĩa vụ nghề nghiệp là bảo vệ người yếu thế, bảo vệ công lý và hỗ trợ quá trình cải cách tư pháp. Sự có mặt của Luật Sư trong các phiên toàn hình sự cũng là một hình thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy nhiên, các công việc thông thường hằng ngày như hoạt động tư vấn thương mại, hỗ trợ giải quyết tranh chấp thương mại hay kể cả bảo vệ thân chủ trong một phiên tòa hình sự ít khi liên quan đến việc chiến thắng của cái thiện với các ác mà chỉ là vấn đề của sự thật khách quan và áp dụng văn bản pháp luật có hiệu lực.

Lựa chọn Văn phòng Công chứng như thế nào, hợp lý với bạn?

Dịch vụ công chứng từ khi được xã hội hóa đến nay đã thực sự trở thành dịch vụ cần thiết và ngày càng phát triển ở Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn. Nhu cầu công chứng của mỗi người dân cũng ngày càng cao. Riêng ở Hà Nội đã có hơn 100 Văn phòng công chứng. Vậy nên lựa chọn Văn phòng công chứng như thế nào để tiết kiệm thời gian, hiệu quả và cảm thấy thoải mái? Bài viết hôm nay tôi sẽ chia sẻ về vấn đề này.

Việc công chứng tôi đề cập trong bài viết này khác với chứng thực hay xác nhận ở UBND các cấp nhé. Bạn muốn chứng thực hộ khẩu hoặc xác nhận các thông tin về nhân thân như: khai sinh, chứng tử, quan hệ vợ chồng, quan hệ cha, mẹ, con… thì bạn không có quyền lựa chọn mà buộc phải đến UBND cấp có thẩm quyền (chẳng hạn UBND xã, phường… nơi bạn cư trú). Nhưng việc công chứng tôi nói trong bài viết này thì bạn có quyền lựa chọn nơi mà bạn ưng ý nhất.

1. Trước tiên bạn hãy phân biệt Phòng công chứng và Văn phòng công chứng

Nói một cách đơn giản và dễ hiểu nhất thì Phòng công chứng là của nhà nước, thường được quen gọi là công chứng nhà nước. Còn Văn phòng công chứng là của tư nhân, thường quen gọi là công chứng tư. Vậy nên khi đi công chứng bạn để ý tên của tổ chức công chứng đó, nếu là “Phòng” thì là của Nhà nước còn nếu là “Văn phòng” thì của tư nhân. Ngoài ra Phòng công chứng thường đặt tên theo số, VD Phòng công chứng số 1, số 2, số 3…

Về cơ bản chỉ khác nhau tên gọi và chủ sở hữu vốn thôi, cách thức hoạt động liên quan đến khách hàng công chứng hoàn toàn giống nhau. Còn để đánh giá cái nào tốt hơn cái nào thì còn phải xét thêm nhiều yếu tố nữa.

Trong bài viết này tôi gọi tắt tất cả bằng từ VPCC cho tiện.

2. Có hướng dẫn thủ tục cho bạn mà chưa cần xem giấy tờ hay không?

Thông thường trước khi đi công chứng bạn thường muốn hỏi thủ tục trước, sau đó khi lựa chọn được nơi công chứng rồi thì mới mang giấy tờ qua. Nhưng không phải nơi nào cũng chịu khó giải thích thủ tục cho bạn khi chưa có giấy tờ. Khi đó họ thường bảo bạn đại ý là mang giấy tờ qua rồi họ sẽ nói cụ thể. Điều đó không phải do khả năng hay trình độ mà có lẽ chỉ là do họ muốn tư vấn chính xác hơn cho bạn mà thôi.

Tuy nhiên có rất nhiều VPCC sẵn sàng tư vấn cặn kẽ, chi tiết cho bạn khi bạn chỉ đến hỏi hoặc thậm chí hỏi qua điện thoại thôi mà chưa cần phải mang bất cứ giấy tờ nào đến. Hãy ưu tiện chọn những VPCC như vậy.

3. Tư vấn và hướng dẫn có rõ ràng, dễ hiểu hay không?

Bạn thích một người tư vấn nhiệt tình, nhiều nội dung và nhiều giải thích hay một người tư vấn ngắn gọn và đúng trọng tâm?

Tuy cách thức và khả năng diễn đạt của mỗi người là khác nhau nhưng các công chứng viên (CCV) và chuyên viên của VPCC đều được đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật chuyên nghiệp. Đúng là những người tư vấn nhiệt tình thường gây được nhiều thiện cảm hơn nhưng theo tôi, bạn nên ưu tiên chọn VPCC tư vấn một cách gọn gàng, đúng câu hỏi, và quan trọng là bạn cảm thấy dễ hiểu là được. Nhiều khi việc giải thích nhiều vấn đề sẽ làm bạn thấy rối hơn khi được tư vấn xong.

4. Giá cả, phí dịch vụ có rõ ràng hay không?

Phí dịch vụ là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với mỗi khách hàng đến công chứng. Theo quy định thì các VPCC đều phải công khai niêm yết các loại phí tại trụ sở. Nhưng không phải lúc nào bạn cũng có thời gian xem và hiểu được bảng phí đó. Vậy nên nếu bạn hỏi tư vấn dù trực tiếp hay qua điện thoại thì cũng đừng ngần ngại mà hỏi các chi phí cụ thể cho việc công chứng của bạn, công chứng thì ngoài phí nhà nước theo quy định, còn có thể có các loại phí như: phí soạn thảo, phí ký ngoài trụ sở, phí ký ngoài giờ…

Bạn nên ưu tiên chọn những VPCC có sự tư vấn rõ ràng các loại phí. Rõ ràng ở đây không nhất thiết phải là một con số cụ thể, bởi vì còn phụ thuộc vào hồ sơ và giá trị tài sản của bạn khi công chứng nữa. Mà rõ ràng thể hiện ở việc bạn hiểu được với vụ việc của bạn thì có những phí gì, cách tính như thế nào, tổng chi phí hết khoảng bao nhiêu tiền…

Bạn cũng lưu ý là VPCC sẽ có một bộ phận kế toán riêng để tính các chi phí, vậy nên nhiều khi người tư vấn cho bạn sẽ không nhớ hết được mà phải hỏi bộ phận kế toán. Do đó có thể họ sẽ hẹn gọi lại và thông báo chi phí cho bạn sau. Đó là việc rất bình thường, không có gì “mập mờ” đâu.

5. Thái độ phục vụ và thực hiện công việc như thế nào?

Công chứng cũng là một dịch vụ, đó là một loại dịch vụ pháp lý. Nhưng không giống như cơ quan hành chính nhà nước, bạn không có quyền lựa chọn, thì ngược lại dịch vụ công chứng cũng như rất nhiều dịch vụ khác trong xã hội, khi đi công chứng bạn là khách hàng và bạn trả tiền để được phục vụ. Vậy nên bạn có quyền được hưởng một dịch vụ tốt và chất lượng, phù hợp với số tiền mà bạn bỏ ra. Nếu không, bạn có quyền tự do lựa chọn bất kỳ một VPCC nào khác.

Bạn biết điều này và VPCC cũng như các công chứng viên cũng đều hiểu điều này. Vậy nên sẽ không bao giờ có chuyện VPCC gây khó khăn hay cửa quyền với bạn. Nếu như có một lúc nào đó bạn cảm thấy như vậy, bạn hãy bình tĩnh suy nghĩ xem, có phải bạn đang “hiểu lầm” họ hay không?

Chẳng hạn, nếu bạn thấy họ yêu cầu bạn quá nhiều giấy tờ, mà bạn cảm thấy rằng không cần thiết, thì đó là do “quy định nó vậy”, họ cũng muốn bớt giấy tờ cho bạn lắm nhưng đó là quy định của pháp luật và điều quan trọng hơn, đó là để đảm bảo an toàn, hạn chế tối đa rủi ro và tranh chấp cho cả bạn và cho cả VPCC. Nếu bạn thấy giấy tờ lằng nhằng, đừng chần chừ hãy hỏi ngay là tại sao lại phải cung cấp những giấy tờ này, hỏi đến khi nào họ giải thích cho bạn hiểu thì thôi. Lúc đó bạn sẽ thấy thoải mái khi cung cấp giấy tờ cho họ.

Về cách thức thực hiện công việc thì cứ nhanh, gọn, cẩn thận và chính xác là được rồi. Cái này bạn nhìn hợp đồng họ soạn ra là sẽ đánh giá được phần nào. Thỉnh thoảng lỡ sai vài lỗi chính tả trong hợp đồng, văn bản mà bạn phải đi đính chính lại cũng không sao, chuyện bình thường thôi, không đánh giá được chất lượng VPCC ở mấy lỗi chính tả đó.

Về thái độ thì bạn cứ đánh giá dựa trên cảm nhận của bạn là chính xác rồi. Dù cảm nhận đó là chủ quan hay khách quan thì dù sao cũng phải có thiện cảm với nhau thì làm việc mới thoải mái được.

6. Mức độ nhiệt tình và dễ dàng đến đâu?

Bạn đến một VPCC mà họ cực kỳ nhiệt tình tư vấn cho bạn, thiếu giấy tờ gì họ cũng có cách giải quyết. Vụ việc, giao dịch của bạn khó khăn và phức tạp đến đâu họ cũng có thể xử lý được trong khi có thể bạn đã bị một số VPCC khác từ chối hoặc yêu cầu giấy tờ “lằng nhằng” hơn. Nói chung là kiểu gì bạn cũng sẽ công chứng được hợp đồng, giao dịch ở VPCC đó. Đương nhiên kèm theo đó sẽ là thêm một khoản chi phí khác nữa. Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy hài lòng và thoải mái hơn những nơi khác rồi. Nhưng liệu bạn có nên YÊN TÂM với hợp đồng, văn bản đã được công chứng như vậy không? Chưa chắc đâu nhé.

Sau một thời gian không ngắn được trải nghiệm các dịch vụ công chứng, và được tiếp xúc với các công chứng viên cũng như chuyên viên tư vấn, tôi nhận thấy là không giống như luật sư, sẽ chỉ bảo vệ quyền lợi tối đa cho khách hàng, thân chủ của mình, thì nhiệm vụ của các công chứng viên là phải đảm bảo an toàn tối đa cho các giao dịch, hợp đồng, văn bản mình công chứng, mà không được nghiêng về phía bên nào cả, kể cả đó là bên khách hàng đã thuê mình công chứng.

Mối quan hệ giữa VPCC và khách hàng có thể nói là “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” 😆 . Bất kỳ bên nào vô tình hay cố ý làm sai cũng sẽ gây hại cho bên còn lại.

Bạn luôn nghĩ rằng, văn bản, hợp đồng của bạn “có công chứng” là hoàn toàn yên tâm và chắc ăn rồi? Thực tế thì chưa hẳn là như vậy. Chỉ có VPCC và CCV nào ý thức được mối quan hệ “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu” với khách hàng thì khi đó giao dịch, hợp đồng của bạn mới được đảm bảo an toàn và có thể yên tâm được. Đó là những VPCC và CCV có trách nhiệm và có “tâm”. Bạn có thể đặt niềm tin vào dịch vụ của họ.

Nhưng một số VPCC và CCV lại không nghĩ vậy, họ đặt việc công chứng được và thu được phí dịch vụ của khách hàng là ưu tiên số một, hoặc họ có tư duy cho rằng chỉ chứng nhận đúng là có người đó, thực hiện giao dịch đó mà không cần quan tâm đến các yếu tố pháp lý hay giấy tờ khác liên quan. Họ cho rằng khi có tranh chấp, rủi ro thì đó là việc của khách hàng, mình không có liên quan gì cả.

Thực tế là văn bản, hợp đồng đã công chứng vẫn có nguy cơ bị vô hiệu hoặc bị hủy bởi tòa án, thêm vào đó nếu như văn bản hay hợp đồng đó có những điều khoản rất bất lợi cho bạn, thì bạn sẽ có khả năng thua rất lớn khi có tranh chấp và phải ra tòa.

Như vậy có thể là cùng một giao dịch nhưng khi bạn công chứng ở VPCC này thì giao dịch của bạn sẽ an toàn nhưng nếu công chứng ở VPCC khác thì bạn lại đang phải đối mặt với nguy cơ văn bản hợp đồng bị vô hiệu hoặc rủi ro và tranh chấp cao trong tương lai.

Cách nhận biết tốt nhất trong trường hợp này có lẽ là… hỏi. Nếu bạn cảm thấy “có gì đó sai sai”, bạn hãy hỏi họ thật cụ thể và chi tiết để họ giải thích lý do, bạn hãy đặt ra nhiều tình huống và giả thiết (nếu thế này hoặc nếu thế kia thì có sao không chẳng hạn) để biết được các rủi ro có thể phát sinh. Nơi nào giải thích rõ ràng và bạn thấy vấn đề được sáng tỏ, thì bạn có thể yên tâm và tin tưởng nơi đó.

Chốt lại 1 câu: Chưa chắc VPCC yêu cầu bạn cung cấp ít giấy tờ và đơn giản đã tốt và đáng tin cậy hơn VPCC yêu cầu nhiều giấy tờ hơn đâu nhé.

7. Cách xử lý vấn đề có linh hoạt và đúng quy định?

VPCC làm việc chắc chắn cẩn thận là rất tốt rồi, nhưng nếu nguyên tắc quá thì bạn sẽ thấy hơi… nản. Nhất là khi việc xử lý một cách linh hoạt lại không hề trái luật. Tình huống cần linh hoạt phổ biến hơn cả ở các VPCC đó là thay thế một số giấy tờ. Có một số giấy tờ có thể thay thế cho nhau mà vẫn đúng quy định của pháp luật. Một VPCC biết cách tư vấn để khách hàng có thể cung cấp các giấy tờ thuận lợi hơn cho khách hàng mà vẫn đúng quy định, đảm bảo an toàn cho hợp đồng, giao dịch thì đó là một VPCC đáng để bạn tin tưởng và trả phí dịch vụ cho họ.

8. Cách giải quyết khi lỡ làm sai

Khi bạn làm bất cứ việc gì thì sai sót cũng là điều không thể tránh khỏi. Công chứng là một dịch vụ pháp lý, có thể chỉ cần một sai sót nhỏ cũng gây thiệt hại lớn cả cho khách hàng và cho công chứng viên. Vì vậy công chứng viên cũng là một nghề có sự rủi ro và tính trách nhiệm cao.

Những sai sót mà tôi nói ở đây là những sai sót không gây hậu quả nghiêm trọng và đã kịp được phát hiện ra trước khi phát hành hợp đồng công chứng, chẳng hạn như quên, thiếu 1 giấy tờ nào đó, nhầm lẫn trong văn bản, hợp đồng, giải thích sai, giải thích nhầm quy định cho khách hàng..v..v.. Những sai sót này kể cả ở những VPCC tốt nhất đi nữa thì thỉnh thoảng vẫn xảy ra (thỉnh thoảng thôi chứ thường xuyên thì “có vấn đề” rồi 😆) và nếu không may điều “thỉnh thoảng” đó lại rơi trúng vào bạn thì bạn cũng hãy cho họ cơ hội để sửa sai. Nếu như họ trung thực nhận lỗi và sửa sai một cách đàng hoàng, minh bạch và có trách nhiệm, quan trọng là bạn cảm thấy hài lòng thì đó là một VPCC tốt và đáng tin cậy. Bạn nên tiếp tục sử dụng dịch vụ của họ trong tương lai.

Còn nếu biết chắc lỗi sai là do họ rồi nhưng họ vẫn tìm cách từ chối và đổ lỗi cho ai đó, hoàn cảnh nào đó… thì bạn nên cân nhắc việc có nên tiếp tục sử dụng dịch vụ công chứng của những nơi đó hay không.

Đó là 8 điều cần lưu ý khi bạn lựa chọn VPCC để công chứng các giao dịch, hợp đồng, văn bản mà tôi muốn chia sẻ với bạn qua quá trình tiếp xúc và làm về công chứng.

DSC03358

Tóm lại, một VPCC to, hoành tráng, vị trí đẹp cũng không hoàn toàn phản ánh được chất lượng dịch vụ tương xứng. Phòng công chứng nhà nước chưa chắc đã yên tâm hơn hẳn các VPCC tư nhân.

NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUỐN MUA LẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam theo 3 trường hợp:

1/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

2/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam;

3/ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

procedure-for-foreigner-purchase-shares-to-company1

Hoạt động mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài phải lưu ý các quy định sau:

– Việc mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện theo quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;

– Việc góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thực hiện các cam kết gia nhập WTO về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường;

– Ngoài các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư , việc góp vốn, mua cổ phần phải áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành ví dụ pháp luật về đất đai, sở hữu trí tuệ,…

Trình tự, thủ tục đối với việc Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam quy định riêng theo từng trường hợp trên đây như sau:

Trường hợp 1: nhà đầu tư nước ngoài mua một phần vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; Theo đó, không làm thay đổi pháp nhân, chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản trong doanh nghiệp ; doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo thủ tục quy định tại Điều 42 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP;

Trường hợp 2: nhà đầu tư nước ngoài mua toàn bộ vốn góp/cổ phần của các thành viên/cổ đông trong doanh nghiệp Việt Nam; theo đó thay đổi chủ sở hữu ; doanh nghiệp Việt Nam đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều 43, 44 của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đối với các thủ tục có liên quan;

Nhà đầu tư nước ngoài báo cáo Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án quy định tại Nghị định 118/2015/NĐ-CP để đăng ký lại như đối với quy định cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trường hợp 3: nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư (thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh) theo quy định tại Điều 63 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

Trường hợp thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì số Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là số đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp được cấp mới theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Thông tư 16/2015/TT-BKHĐT quy định biểu mẫu thực hiện thủ tục đầu tư và báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam Và thông tư số 83/2016/TT-BTC  của Bộ Tài Chính. Các quy định về quyền được giữ lại tên doanh nghiệp, con dấu, tài khoản và mã số thuế đã đăng ký chỉ áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy phép đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực hiện đăng ký lại theo quy định của Nghị định 194/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013

Việc doanh nghiệp mua được kế thừa mã số thuế của doanh nghiệp bán thực hiện theo quy định tại Thông tư số 5/2007/TT-BTC ngày 18/07/2007 và Quyết định số 82/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về mã số đối tượng nộp thuế qui định khi có hợp đồng hoặc thỏa thuận về việc bán doanh nghiệp, thì doanh nghiệp bán phải thông báo bằng văn bản, kèm theo hợp đồng mua bán doanh nghiệp, bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký thuế và quyết toán thuế gửi cho cơ quan thuế. Mã số thuế của doanh nghiệp mua giữ nguyên là mã số của doanh nghiệp bán. Riêng trường hợp doanh nghiệp bán là doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp mua được cấp mã số thuế mới.

dich-vu-thi-hanh-ban-an-dan-su-nuoc-ngoai-tai-viet-nam

 

Hiện trạng một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài mượn tên người Việt đăng ký kinh doanh

Hiện nay đang tồn tại khá phổ biến việc nhiều công ty được thành lập hoặc đang hoạt động dưới danh nghĩa công ty TNHH, CTCP do người Việt nam làm chủ nhưng thực chất tiền lại do 1 số nhà đầu tư nước ngoài chuyển và hoạt động. Thực tế người Việt nam chỉ là người làm thuê cho chủ nước ngoài.

Nguyên nhân xuất phát điểm là do trong một sốtrường hợp, Nhà đầu tư nước ngoài không thể đứng tên sở hữu Công ty tại Việt Nam vì các lý do

  1. Chi phí thành lập công ty nước ngoài quá cao
  2. Một số ngành nghề kinh doanh Việt Nam chưa cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động
  3. Đơn giản hóa thủ tục thành lập công ty và trong quá trình hoạt động
  4. Các trường hợp khác
Khi gặp các trường hợp này, Nhà đầu tư nước ngoài nên lựa chọn Người Việt Nam để đứng tên thành lập công ty, và tất nhiên, giữa 02 bên phải có thỏa thuận bằng văn bản theo đó, người nước ngoài sẽ:
  1. Quản lý và Điều hành mọi hoạt động của Công ty
  2. Sở hữu Công ty như một người chủ thật sự
  3. Người Việt Nam chỉ nhận lương và các khoản thưởng (nếu có)
Trong nội dung dịch vụ của Công ty Quốc Luật, Công ty sẽ tư vấn toàn bộ các vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức đầu tư này và trực tiếp thay mặt Quý khách thực hiện toàn bộ các thủ tục theo quy định của pháp luật, bao gồm:
  1. Tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan
  2. Tư vấn, soạn thảo các hợp đồng thỏa thuận giữa nhà đầu tư nước ngoài và người Việt Nam
  3. Tư vấn, thực hiện toàn bộ các thủ tục để xin cấp giấy phép và cho người nước ngoài quản lý tài khoản ngân hàng của Công ty.

    break(great for any design)

Nếu “cơm lành canh ngọt” thì không nói làm chi, nhưng hiện đã xảy ra nhiều doanh nghiệp có xu hướng làm ăn chộp giật. Mục đích chỉ là mượn danh nghĩa người khác để vụ lợi cho mình. Xảy đến tình cảnh người đại diện pháp luật vô tình vướng vào vòng lao lý.

Ở đây cũng cần phải hiểu rõ người đại diện theo pháp luật của DN là người bị pháp luật “túm tóc”, giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến loại lớn nhất của DN. Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của DN là người đứng đầu pháp nhân (tức là “thủ trưởng” của DN). Người đại diện theo pháp luật của DN phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận ĐKKD của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc hay Tổng Giám đốc – Sau đây gọi chung là Giám đốc – (các điều 46, 67, 95 và 116, Luật DN năm 2005) đã quy định rõ chức danh cụ thể với từng loại hình DN.

Trong thực tế, người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện đương nhiên cho doanh nghiệp về cả đối nội lẫn đối ngoại. Người đại diện theo pháp luật được quyền ký kết hợp đồng, thỏa thuận mà không cần ủy quyền hoặc chấp thuận nào – nói cách khác, quyền đại diện cho doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật là vô hạn. Trong nội bộ, người đại diện theo pháp luật quyết định các vấn đề quan trọng như việc tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp.

Để công việc làm ăn thuận tiện, hay vì lý do nào đó mà chủ thực sự góp vốn đã lách luật để cho người khác đứng tên giùm. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành không cho phép nhờ đứng tên thay. những hành vi hay giao dịch kiểu như vậy là hoàn toàn không đúng quy định của pháp luật. Thậm chí có thể xem là “lừa dối” cơ quan quản lý Nhà nước (vì không góp vốn mà vẫn đăng ký là có góp vốn, để được cấp giấy chứng nhận góp vốn). Nhưng quan trọng và đáng nói hơn, là luôn tiềm ẩn những rủi ro lớn cho người bị nhờ đứng tên. Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể nào về việc xử phạt vi phạm đối với hành vi cho người khác đứng tên giùm khi thành lập doanh nghiệp, Nhưng theo quy định của pháp luật thì hành vi nhờ người khác đứng tên giùm doanh nghiệp được coi là hành vi kê khai không trung thực, không chính xác đối với hồ sơ thành lập doanh nghiệp tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó đối chiếu với quy định khoản 1 điều 20 của Nghị định 155/2015 NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính kế hoạch đầu tư thì đã có quy định rõ như sau:

Điều 20. Vi phạm quy định về kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác trong trường hợp:

a) Đăng ký thành lập doanh nghiệp;

b) Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp;

c) Đăng ký hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;

d) Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;

đ) Đăng ký giải thể doanh nghiệp;

e) Thông báo chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;

g) Thông báo tạm ngừng kinh doanh.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký thay đổi và thông báo lại các thông tin doanh nghiệp đã kê khai không trung thực, không chính xác.

Như vậy nếu kê khai không trung thực khi đăng ký thành lập  doanh nghiệp thì mức xử phạt từ 10 đến 15 triệu đồng đồng thời buộc phải đăng ký lại hồ sơ, sửa đổi lại thông tin..Có rất nhiều trường hợp khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chủ thực sự đã cầm tiền bỏ trốn và người đứng tên thay phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với vấn đề của doanh nghiệp, đồng thời sau đó cơ quan có thẩm quyền buộc phải rút giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp…Tùy mức độ tham gia vào công ty và quy mô lừa đảo, người đứng tên thay có thể bị phạt tiền, thậm chí lãnh án tù

Do vậy để tránh được những rủi ro pháp lý, cũng như những vấn đề xấu có thể xảy ra trong quá trình đứng tên giùm cho doanh nghiệp, trước khi đứng tên giùm, người đại diện nên xem xét kỹ lường mối quan hệ của mình với chủ sở hữu thực sự,cân nhắc tư cách của người nhờ đứng tên, tính minh bạch của vụ việc. Người nhờ có đáng tin không? Tài sản họ nhờ bạn đứng tên do đâu mà có? Giấy tờ đứng tên có hợp pháp không?, ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của công ty, mô hình doanh nghiệp….

Nếu không thể xác định rõ các vấn đề trên  nếu được nhờ đứng tên công ty, giám đốc và trực tiếp ký chứng từ, nên từ chối ngay. Dù người nhờ chứng minh được họ làm ăn chân chính nhưng không đủ điều kiện để theo dõi sát sao. Hậu quả rất khó lường.

Bản thân người được nhờ đứng tên phải xác định rõ việc mình làm đúng hay sai, có bị pháp luật cấm hay không, tư cách, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình khi đứng tên giùm cho doanh nghiệp. Nhưng một khi sự cố xảy ra, cách tốt nhất hãy gặp luật sư càng sớm càng tốt để tìm cách chứng minh sự trong sạch của mình.

Vậy theo bạn, theo tôi. Chúng ta phải làm sao để có thể cân bằng được mối quan hệ này?

thu_tuc_thanh_lap_cong_ty5

 

Mở rộng quyền tự do kinh doanh

0603201405

Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân.

(TBKTSG) – Luật Doanh nghiệp (LDN 2014) và Luật Đầu tư (LĐT 2014) vừa được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014, sẽ có hiệu lực từ ngày 1-7-2015, thay thế cho LDN và LĐT hiện hành. Tinh thần toát lên hai luật mới này là sự thừa nhận và tôn trọng quyền tự do kinh doanh, trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp.

Quyền tự do kinh doanh: Từ Hiến Pháp đến LDN 2014 và LĐT 2014

Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân. Hơn nữa, không quy định chung chung như Hiến pháp 1992 là công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, điều 33 của Hiến pháp 2013 nói rõ rằng “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai ý quan trọng: (i) Mọi người có quyền tự do kinh doanh; và (ii) Giới hạn của quyền tự do đó là những gì luật cấm, nói khác đi, muốn cấm cái gì thì Nhà nước phải công bố minh thị.

Ngành nghề cấm kinh doanh: Điều cấm đã được nói rõ

Luật Doanh nghiệp hiện hành không nêu các ngành nghề cấm kinh doanh. Thay vào đó, điều 30 LĐT hiện hành cấm đầu tư trong các lĩnh vực gây phương hại đến (i) quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng; (ii) di tích lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam; (iii) sức khỏe nhân dân, hủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường; và (iv) các dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hại hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm. Vấn đề là không dễ xác định phạm vi của các lĩnh vực cấm đầu tư, vậy nên, về bản chất, không thể xác định được giới hạn cấm.

Tuy nhiên, điều này hoàn toàn thay đổi trong LDN 2014. Điều 7 về quyền của doanh nghiệp trong LDN 2014 minh thị rằng doanh nghiệp được “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”.

Vậy luật cấm gì? Điều 6 LĐT 2014 cấm đầu tư kinh doanh trong sáu ngành nghề sau: kinh doanh ma túy; kinh doanh hóa chất, khoáng vật cấm; kinh doanh động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

Để làm rõ hơn giới hạn cấm này, trong phụ lục 1 và 2, LĐT 2014 còn liệt kê chi tiết danh mục chất ma túy, danh mục động, thực vật, khoáng vật cấm kinh doanh đầu tư. Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, có lẽ đây là lần đầu tiên một văn bản luật nhưng lại có các phụ lục quy định chi tiết và tỉ mỉ như vậy.

Đăng ký kinh doanh: Không cần ghi ngành nghề

Điều 9, LDN hiện hành quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKDN). Điều luật này trói buộc doanh nghiệp trong những ngành nghề mà Nhà nước nghĩ ra, liệt kê ra và cho phép doanh nghiệp đăng ký. Suy cho cùng, đó là sự ban phát quyền kinh doanh từ Nhà nước.

Tuy nhiên, một khi giới hạn cấm kinh doanh đã được làm sáng tỏ, việc liệt kê ngành nghề kinh doanh, với ý nghĩa xác định quyền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sẽ trở nên vô nghĩa.
Trong LDN 2014, ngành nghề kinh doanh không còn là một nội dung trong GCNĐKDN nữa. Theo điều 29 của luật mới này, GCNĐKDN sẽ chỉ còn bốn nội dung: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính; thông tin về người đại diện theo pháp luật và thành viên công ty; và vốn điều lệ.

Đứng ở góc độ điều hành, doanh nghiệp sẽ không còn phải lo lắng xem công việc mình đang làm có phù hợp với ngành nghề đã đăng hay không, hoặc hợp đồng sẽ hoặc đã ký có bị đối tác kiện ra tòa yêu cầu tuyên vô hiệu với lý do nội dung công việc không nằm trong phạm vi ngành nghề đăng ký hay không.

Nhà nước: nhà đầu tư trong sân chơi chung theo luật chơi chung

Theo điều 88, LDN 2014, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ. Các doanh nghiệp này sẽ được thành lập theo mô hình công ty TNHH một thành viên và tuân thủ các quy định trong LDN 2014 về công ty TNHH một thành viên, trừ một số quy định đặc thù về quản lý vốn, bổ nhiệm nhân sự và công bố thông tin. Khi Nhà nước không nắm 100% vốn điều lệ trong công ty thì công ty đó sẽ được thành lập và vận hành theo mô hình công ty TNHH hai thành viên hoặc công ty cổ phần, Nhà nước khi đó cũng sẽ là thành viên hoặc cổ đông như các thành viên hoặc cổ đông khác và phải tuân thủ điều lệ công ty và LDN 2014 như một nhà đầu tư bất kỳ nào.

Con dấu: sự cởi trói cần thiết trong môi trường kỹ thuật số

Con dấu đã từng được ví là “ngọc tỷ” trong doanh nghiệp, không một giấy tờ nào được thừa nhận và tôn trọng khi không có đo đỏ con dấu đóng lên. Ai nắm con dấu người đó có thể kiểm soát toàn bộ công ty thậm chí làm cho cả một công ty ngừng hoạt động.

Tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh khi mà những giao dịch được thực hiện qua những cái click chuột, thì con dấu dần mất vai trò của mình. Theo điều 44, LDN 2014, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu cũng như việc quản lý, sử dụng và lưu giữ nó.

Với quy định này, cơ quan công an sẽ không còn quyền vào doanh nghiệp để kiểm tra việc sử dụng dấu hoặc doanh nghiệp cũng không mất thời gian và chi phí lên xuống cơ quan công an để khắc dấu hoặc bị phạt khi lỡ làm mất con dấu. Cũng có thể hình ảnh cô văn thư cần mẫn cặm cụi đóng dấu trên những chồng hồ sơ cao ngất sẽ dần mờ nhạt đi cùng với thời gian vì cũng theo điều 44 này, “con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng con dấu”.

Xin lỗi, anh không phải là người đại diện duy nhất!

LDN 2014 có khá nhiều thay đổi về mặt quản trị công ty, trong đó có thay đổi về người đại diện theo pháp luật. Luật lần này cho phép các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật. Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nhiệm vụ, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ được quy định trong điều lệ công ty (điều 13)

Thay đổi này ảnh hưởng rất lớn đến mô hình tổ chức và quản trị công ty nhưng theo hướng quản trị công ty hiện đại. Mỗi giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty – khi đó sẽ có quyền đại diện cho công ty trong phạm vi quyền hạn họ được trao. Và một khi họ thực hiện đúng thẩm quyền của mình, mọi hành động của họ sẽ ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp.
Để có thể thích ứng được với quy định mới, doanh nghiệp sẽ buộc phải phân định rõ quyền, nhiệm vụ, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật, đồng thời, đối tác sẽ phải tìm hiểu tư cách và thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật trước khi quyết định làm ăn với doanh nghiệp.

Vẫn có những lo lắng

Theo thông lệ, LDN 2014 sẽ được các cơ quan liên quan hướng dẫn thi hành. Câu hỏi đặt ra là tinh thần cải cách của LDN 2014 sẽ được tiếp nối thế nào trong các văn bản hướng dẫn, khi mà LDN 2014 vẫn có những vùng xám tạo dư địa cho cả sự cải cách lẫn sự kìm hãm. Ví dụ như yêu cầu về việc buộc người đăng ký doanh nghiệp phải nộp lý lịch tư pháp cho cơ quan đăng ký kinh doanh; quy định doanh nghiệp được quyền kiện cơ quan đăng ký kinh doanh khi từ chối tên dự kiến của doanh nghiệp; quy định Chính phủ quy định chi tiết về con dấu…

luat_doanh_nghiep_2014

 

Giảm tỷ lệ cổ đông hiện diện và thông qua quyết định trong kỳ họp

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, đối với công ty TNHH hai thành viên, cuộc họp Hội đồng thành viên (HĐTV) sẽ được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ(1), trong khi đó, tỷ lệ này là 75% theo Luật Doanh nghiệp hiện hành(2). Tỷ lệ để quyết định của HĐTV được thông qua vẫn là phải có sự đồng ý của đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp, hoặc ít nhất 75% đối với những quyết định quan trọng như bán tài sản có giá trị lớn; sửa đổi, bổ sung điều lệ; tổ chức lại, giải thể công ty(3). Tuy nhiên, trong trường hợp công ty lấy ý kiến bằng văn bản, quyết định sẽ được thông qua khi được số thành viên sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ chấp thuận – tỷ lệ này theo Luật Doanh nghiệp hiện hành là 75%(4). Quy định mới dường như khuyến khích việc thông qua quyết định của HĐTV bằng văn bản.

Đối với công ty cổ phần, các thay đổi này càng sâu sắc hơn và gần với thông lệ trong các công ty cổ phần trên thế giới. Tỷ lệ cổ đông tối thiểu cần thiết phải có mặt cho các cuộc họp lần đầu của đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) bây giờ chỉ là quá bán (51% tổng số cổ phiếu biểu quyết), so với 65% như Luật Doanh nghiệp hiện hành. Nếu cuộc họp lần đầu không thể diễn ra, cuộc họp lần thứ hai sẽ hợp lệ khi có mặt số cổ đông đại diện cho ít nhất 33% tổng số cổ phiếu biểu quyết trong khi tỷ lệ này theo quy định hiện nay là 51%. Thêm vào đó, tỷ lệ phiếu đồng ý cần thiết để quyết định trong cuộc họp ĐHĐCĐ được thông qua cũng được hạ xuống tương ứng (chỉ cần 51% thay vì 65% như hiện nay, trừ một số vấn đề đặc biệt), tỷ lệ này giảm xuống đáng kể khi biểu quyết bằng văn bản: 51% so với 75% như hiện nay.

Ngoài ra, LDN 2014 còn trao thêm cho doanh nghiệp quyền chọn lựa mô hình tổ chức phù hợp. Đồng thời, chính thức thừa nhận vai trò của thành viên độc lập trong HĐQT. Đây có thể là cách luật cân bằng quyền quyết định của cổ đông lớn và sự minh bạch trong hoạt động của công ty để bảo vệ cổ đông nhỏ.

 

(1) Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2014

(2) Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2005

(3) Điều 52.(3) Luật Doanh nghiệp 2005 và điều 60.(3) Luật Doanh nghiệp 2014

(4) Điều 52.3 Luật Doanh nghiệp 201

(Bổ sung thông tin) Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua từ kỳ họp thứ 1 đến kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa XIII)

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 1 – Quốc hội khóa XIII:
1. Nghi quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ và số Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ khóa XIII

2. Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

3. Nghị quyết về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011

4. Nghị quyết về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân

5. Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2009

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 – Quốc hội khóa XIII:
1. Luật cơ yếu

2. Luật đo lường

3. Luật khiếu nại

4. Luật lưu trữ

5. Luật tố cáo

6. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015

7. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012

8. Nghị quyết về kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015

9. Nghị quyết về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2015

10. Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) cấp quốc gia

11. Nghị quyết về kết thúc việc thực hiện Nghị quyết số 08/1997/QH10 và Nghị quyết số 73/2006/QH11 về dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

12. Nghị quyết về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề

13. Nghị quyết về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII

14. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 – Quốc hội khóa XIII:
1. Bộ Luật lao động

2. Luật Bảo hiểm tiền gửi

3. Luật Biển Việt Nam

4. Luật Công đoàn

5. Luật Giáo dục đại học

6. Luật giá

7. Luật giám định tư pháp

8. Luật phòng, chống rửa tiền

9. Luật phòng, chống tác hại thuốc lá

10. Luật phổ biến, giáo dục pháp luật

11. Luật Quảng cáo

12. Luật Tài nguyên nước

13. Luật xử lý vi phạm hành chính

14. Nghị quyết về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2013; điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII

15. Nghị quyết về việc thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính

16. Nghị quyết về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

17. Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội

18. Nghị quyết về bổ sung một số dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015

19. Nghị quyết về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân

20. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII.

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4 – Quốc hội khóa XIII:

1. Luật Xuất bản.

2. Luật Luật sư (sửa đổi)

3. Luật Quản lý thuế (sửa đổi)

4. Luật Dự trữ quốc gia

5. Luật Hợp tác xã.

6. Luật Điện lực (sửa đổi)

7. Luật Thủ đô.

8. Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi)

9. Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi)

10. Nghị quyết số 31/2012/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013.

11. Nghị quyết số 34/2012/QH13 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2013.

12. Nghị quyết số 35/2012/QH13 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

13. Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại.

14. Nghị quyết số 37/2012/QH13 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013.

15. Nghị quyết số 38/2012/QH13 về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

16. Nghị quyết số 39/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai;

17. Nghị quyết số 40/2012/QH13 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5 – Quốc hội khóa XIII: không có dự Luật nào được thông qua

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 – Quốc hội khóa XIII:
1. HIến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2. Luật việc làm

3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng

4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy, chữa cháy

5. Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật

6. Luật tiếp công dân

7. Luật đấu thầu

8. Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

9. Luật đất đai

10. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2014

11. Nghị quyết về tăng cường công tác quản lý, quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện

12. Nghị quyết về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm

13. Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

14. Nghị quyết về điều chỉnh một số nội dung và giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 28/2004/QH11

15. Nghị quyết về tăng cường công tác triển khai thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

16. Nghị quyết đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân

17. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII

 

Các dự án Luật và Nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 – Quốc hội khóa XIII: không có dự Luật nào được thông qua

  • (Nguồn: http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn/)