Vài nét về lịch sử phát triển bưu thiếp và bưu ảnh

Bưu thiếp (Carte postale) là một phương tiện trao đổi thư từ dạng viết trên một miếng giấy bìa chữ nhật, có nhiều cỡ khác nhau, nhưng kích thước thông dụng nhất là khổ 10×15 cm, gửi đi không cần phong bì, địa chỉ người gửi, người nhận và tem được dán ở ngay cạnh nội dung thư. Và vì không cần phong bị và nội dung trao đổi thường ngắn, nên bưu thiếp có cước phí riêng và rẻ hơn cước phí cho gửi thư thông thường.

Nếu như nước Anh là cái nôi của tem thư, thì cái nôi của bưu thiếp là nước Áo. Bác sĩ Stéphan, người Áo đã có ý tưởng này từ năm 1865. Và phải đến ngày 1/10/1869 tại Viên, giáo sư Emmanuel Hermann mới thuyết phục được cơ quan bưu chính của Áo chính thức sử dụng Bưu thiếp.

Ở Pháp, bưu thiếp xuất hiện lần đầu tại thành phố Strasbourg (đông bắc nước Pháp) và Paris trong thời kỳ chiến tranh Pháp Đức 1870-1871. Tuy nhiên, theo đề nghị của nghị sĩ Louis Wolowski, Luật Tài chính ban hành ngày 20/12/1872 mới chính thức ghi nhận việc sử dụng bưu thiếp trong các hoạt động bưu chính tại nước Pháp và được thực hiện trên toàn nước Pháp từ ngày 15/1/1873. Cho tới năm 1875 việc sản xuất và bán bưu thiếp là do cơ quan bưu chính độc quyền.

Lúc đầu, ở mặt chính của bưu thiếp dùng để ghi địa chỉ người gửi, người nhận, chỗ dán tem của bưu thiếp và chỉ có một đường viền trang trí dày khoảng 4mm. Năm 1889, tại Triển lãm Thế giới tại Paris, người ta đã đưa hình Tháp Eiffel, công trình mới được xây dựng nhân dịp Triển lãm, lên bưu thiếp mang và đã được mọi người đón nhận nhiệt liệt. Năm 1891 Dominique, người Mácxây là người đầu tiên đã thương mại hoá các bưu thiếp có hình ảnh. Tuy nhiên, do kỹ thuật, hình loại này còn hết sức hiếm trước năm 1897. Tại Triển lãm Thế giới tại Paris năm 1900, nơi người ta đã dành 5 gian cho Đông Dương và Đông Dương được giới thiệu tại triển lãm qua các bưu ảnh, đã đánh dấu những bước phát triển mạnh mẽ của bưu thiếp. Và giai đoạn từ đầu thế kỷ 20 đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ Hai được gọi đó là giai đoạn «vàng» của bưu thiếp. Vào thời kỳ này, các báo hàng ngày mới thường chỉ đăng tải tin tức cùng với tranh vẽ minh hoạ, ảnh chụp trên báo hầu như không có. Nhờ kỹ thuật chụp ảnh và công nghệ in, đặc biệt là công nghệ khắc chìm (iconographie), các nhà xuất bản, các nhà nhiếp ảnh đã đưa các hình ảnh phong cảnh, các sự kiện và cuộc sống hàng ngày ở khắp các nơi trên thế giới qua bưu thiếp cho mọi người.

Giai đoạn đầu, nội dung của thư không được viết trên mặt chính của bưu thiếp. Mặt chính chỉ được dùng để ghi địa chỉ người nhận, có nghĩa là cả tranh, ảnh và nội dung thư viết cùng ở mặt sau. Một bước ngoặt lớn đối với bưu thiếp là từ năm 1904: cơ quan bưu chính cho phép mặt chính của bưu thiếp được chia làm hai phần, phần bên trái dùng để viết thư, còn bên phải để ghi địa chỉ người nhận và dán tem. Có nghĩa là mặt sau được hoàn toàn sử dụng cho tranh hoặc ảnh. Và như vậy, thông qua bưu thiếp, mọi tầng lớp xã hội ở mọi nơi có thể tiếp cận được với những bức ảnh muôn hình muôn vẻ có kích cỡ bằng bưu thiếp. Cũng vì vậy người ta còn gọi chúng là bưu ảnh (Cartes-photos)

Khi công nghệ viến thông phát triển, nhất là điện thoại và sau này là thư điện tử, bưu ảnh đã mất dần ưu thế của mình. Bưu ảnh chỉ còn dùng ở một vài điểm du lịch và chủ yếu cho người lớn tuổi. Người trẻ tuổi thường liên lạc với nhau qua thư điện tử và các ảnh tự chụp bằng kỹ thuật số và phương thức trao đổi thư từ này được gọi là bưu thiếp ảo.
Ở Đông Dương, sau khi Pháp đã hoàn thành cuộc chính phục đất đai, công cuộc khai thác thuộc địa đòi hỏi các nhu cầu về tiền bạc và nhân lực từ chính quốc. Các tấm bưu ảnh đã góp phần đáp ứng được «nhu cầu mời gọi đầu tư, di dân và du lịch đến xứ sở đầy sự phong phú về văn hoá, hấp dẫn về cảnh quan và giầu có về sản vật ». Chính vì vậy, thời kỳ nay, cũng chính là giai đoạn «vàng» của bưu ảnh Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Trong bài tham luận «Lịch sử bưu ảnh Đông Dương từ 1900-1914 » tại Hội thảo « Nguồn sử liệu và cách tiếp cận Việt Nam » tổ chức tại Aix-en-Provence vào năm 1995, Vincent Thierry đã thống kê được ở Việt Nam trong giai đoạn đó có tới 70 nhà xuất bản tham gia vào việc phát hành khoảng 18.000 mẫu bưu ảnh. Nhiều nhà nhiếp ảnh và sản xuất bưu ảnh nổi tiếng ở Việt Nam thời bấy giờ như ở Sài Gòn có Bà Wirth, Poujade de Ladevège, Planté ; ở Trung Kỳ có Pelissier (Đà Nẵng), Guérin (Huế), ở Hà Nội có nhà in Schneider, R.Moreau (Hà Nội) và nhất là nhà nhiếp ảnh P. Dieulefils (sẽ trình bày kỹ hơn ở phần sau). Nhiều nhà nhiếp ảnh Việt Nam đã tham gia chụp ảnh và được in trong các bộ sưu tập của người Pháp mà điển hình là Nguyễn An Ninh.

Sau khi cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc, từ năm 1955 đến năm 1965, bưu thiếp ở Việt Nam đã là phương tiện liên lạc của nhân dân hai miền Nam Bắc chính thức duy nhất.
.
buu thiep 1

buu thiep 2

(ảnh lấy trên mạng)

Các bưu thiếp xưa đến nay đã trở thành các tư liệu quý giá cho hậu thế. Cũng như những người sưu tập tem, trên thế giới có nhiều người sưu tập các bưu thiếp xưa (Cartophilie). Trong số đó, có những người sưu tập các bưu ảnh về Hà Nội, Việt Nam và lập các trang Web để giới thiệu các bưu ảnh đã sưu tập như : Nguyễn Tấn Lộc (http://nguyentl.free.fr/), Philippe Chaplaine (http://www.hanoilavie.com/), Lionel Labastire (ông là chắt ngoại của Dieulefils, http://www.pierre-dieulefils.com/)…

Người sản xuất bưu ảnh lớn nhất Việt Nam

Đó là Pierre-Marie Alexis Dieulefils. Ông sinh ngày 21/1/1862 tại làng Malestroit, một làng nhỏ thuộc Morbihan, vùng Brétagne ở Tây Bắc nước Pháp. Năm 1883, ông tham gia quân đội Pháp và là hạ sĩ quan thuộc Trung đoàn Pháo binh 24 ở Vannes. Năm 1885, ông đến Đông Dương và tham gia đạo quân viễn chinh tại Bắc Kỳ và đóng quân tại Hà Nội. Trong thời kỳ này, ông đã bắt đầu chụp ảnh. Năm 1888, sau khi xuất ngũ và lấy vợ tại quê trong kỳ nghỉ phép, vợ chống ông đã trở lại Hà Nội và mở hiệu ảnh. Năm 1890, gia đình ông ở tại 53 phố Julles Ferry (nay là phố Hàng Trống). Địa chỉ này đã được ghi lại trên các bưu ảnh đầu tiên của ông. Trong thời kỳ này ông đã trúng thầu của chính quyền để chụp ảnh căn cước của người nước ngoài sống tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ (chủ yếu là người Trung Hoa). Nhờ đó, ông đã có điều kiện đi khắp xứ Bắc Kỳ. Sau khi cơ quan bưu chính cho phép được sử dụng hoàn toàn mặt sau của bưu thiếp cho ảnh vào năm 1904, Ông đã tạo ra logo của mình là một lư hương (brûle-parfum) và đưa in trên các bưu ảnh do ông xuất bản. Năm 1905, ông đã ngược dòng sông Mê Kông bằng tàu thủy từ Sài Gòn và cập bến ở Phnôm Pênh rồi đi về Angkor ở Cămpuchia. Trở về Hà Nội, ông mở một cửa hàng mới ở Hà Nội tại số 42/44 phố Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền).

Gia đình Pierre Dieulefils

Qua các chuyến đi như vậy, ông đã ghi chép lại bằng các hình ảnh và xuất bản chúng dưới dạng các bưu ảnh và thành sách. Một số ấn phẩm của ông về Đông Dương hiện được lưu trữ tại Thư viện Khoa học xã hội như :

– Cochinchine : Saigon et ses environs (Nam Kỳ : Sài Gòn và các vùng lân cận) / P. Dieulefils. – H. : Editions Artistiques de P. Dieulefils, [1909]. – 54 photo, 19cm-30cm. Ký hiệu kho : 8o 2444, OCTO 07995.
– Indochine pittoresque et monumentale : Annam-Tonkin (Đông Dương tráng lệ và kỳ vĩ : Bắc Kỳ, Trung Kỳ) / P. Dieulefils . – H. : P. Dieulefils, [1909]. – 82 p., 30cm. Ký hiệu kho : 4o 645, QTO 02672
– Cambodge : Ruines d’Angkor (Campuchia và phế tích Angkor) / P. Dieulefils . – H. : Editions Artistiques de P. Dieulefils, [1908]. – 48 photo, 19cm-30cm. Ký hiệu kho : 8o 2445, OCTO 07996

Các bức ảnh của Ông đề cập đến mọi phương diện, đặc biệt là chân dung các nhân vật và các công trình cổ ở Đông Dương.

Ông đã tham gia các Triển lãm lớn và đã được nhiều giải thưởng như :

– Triển lãm thế giới tại Paris năm 1889 (Huy chương đồng)
– Triển lãm thế giới tại Paris năm 1900 (Huy chương vàng)
– Triển lãm quốc tế tại Hà Nội năm 1902
– Triển lãm thuộc địa tại Marseille năm 1906 (Huy chương vàng)
– Triển lãm Pháp – Anh tại Luân Đôn năm 1902
– Triển lãm quốc tế tại Bruxelles năm 1910 (Huy chương vàng)

Hoạt động của ông trong lĩnh vực nhiếp ảnh và xuất bản bưu ảnh mạnh mẽ nhất từ năm 1902 đến những năm 1920. Vào thời kỳ đó, thiết bị nhiếp ảnh rất nặng, cồng kềnh và dễ hư hỏng, đường giao thông hầu như không có và việc đi lại rất nguy hiểm này. Chính vì vậy P. Dieulefils thường được gọi là “Nhà nhiếp ảnh thám hiểm và sản xuất bưu ảnh”.

Ông mất năm 1937 tại quê hương của ông.

Phố Đặng Dung ở Hà Nội vào thời Pháp thuộc có tên là Rue Dieulefils.

Hiện nay, Lionel Labastire người chắt bên ngoại của P. Dieulefils là người sưu tập bưu ảnh của cụ mình. Bộ sưu tập này gồm ba nghìn tấm bưu ảnh, gần 100 ảnh gốc và hàng trăm tấm phim kính. Trong đó, thứ duy nhất mà Labastire được thừa hưởng từ cụ Pi-e là hơn 200 tấm phim kính gốc, còn lại là sưu tầm và mua lại của người khác. Labastire cho biết: “Những bộ ảnh gốc và phim kính này rất quý, ngoài tôi ra chỉ có Hiệp hội bảo tàng quốc gia Pháp đang sở hữu số lượng tương đương được cụ tôi tặng năm 1930”.

Bưu ảnh về Hà Nội đầu thế kỷ 20 lưu trữ tại Thư viện Khoa học xã hội

Chín quyển album sưu tập bưu ảnh bản gốc của P. Dieulefils hiện lưu giữ tại Thư viện Khoa học xã hội (có ký hiệu từ Q1 đến Q9) có hơn 1600 bưu ảnh Đông Dương gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Vân Nam, Quảng Châu Loan và Cămpuchia, trong đó có gần 300 bưu ảnh về Hà Nội đầu thế kỷ 20. Có thể tạm phân loại các bưu ảnh trên như sau:
– Bưu ảnh về kiến trúc đình, chùa, đền và các công trình cổ của Hà Nội : nhiều nhất là các bưu ảnh về Đền Quán Thánh ở Hồ Tây, Chùa Láng và các công trình khác như Chùa Một Cột, Đình làng Ngọc Hà, Điện Kính Thiên (trong thành cổ), Văn Miếu, Đền Voi Phục, Đền Cổ Loa … cùng với cảnh quan xung quanh thoáng đãng.

Đền Quan Thánh (Pagode du Grande Bouddha)

Đình Ngọc Hà (Pagode des fleures)

– Bưu ảnh về các công trình do Pháp xây dựng sau khi chiếm Hà Nội : Các công trình trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 thường là trụ sở các cơ quan hành chính của Pháp và mang nặng phong cách kiến trúc cổ điển phương Tây do các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế như Auguste Henri Vildieu, Charles Lichtenfelder, Adolphe Bussy, François Lagisquet : Phủ Toàn quyền (1906, nay là Dinh Chủ tịch), Văn phòng Phủ thống sứ Bắc Kỳ (1899, nay là Trụ sở Bộ Lao động Thương binh và Xã hội), Toà Thị chính Hà Nội, Toà án tối cao (1906), Sở Bưu điện và điện tín, Sở Ngân khố, Sở Thuế quan (nay là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Trụ sở Phòng Nông nghiệp và Thương Mại, Sở Công chính (1898), Ga Hàng Cỏ, Dinh Thống sứ Bắc Kỳ (1909, nay là Nhà khách Chính phủ), Sở Tài Chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), Sở Địa lý, Đồn Cảnh sát ở phố Jules Ferry (nay là trụ sở Công an Quận Hoàn Kiếm). Công trình văn hoá có Nhà hát thành phố (1911), Rạp chiếu phim Palace (nay là rạp Công Nhân), chợ Đồng Xuân (1906), Cầu Paul Doumer (1902, sau này gọi là Cầu Long Biên), Ga Hàng Cỏ (1901). Các trường học như trường Nữ (nay là trụ sở Bộ Tư pháp), Trường Bảo hộ (này là Trường Chu Văn An), trường Lyccé Albert Saraut (nay là trụ sở của một số cơ quan thuộc Trung ương Đảng **** Việt Nam). Khách sạn Métropole (Khách sạn Thống Nhất), Khách sạn Coq-d’Or (nay là Khách sạn Hoà Bình, phố Lý Thường Kiệt). Các nhà thờ có Nhà thờ Saint Joseph (1886, do Cha cồ Paul Francois Puginier thiết kế, sau này thường gọi là Nhà thờ lớn), Nhà thờ Tin Lành… Các ảnh trên phần lớn chụp toàn cảnh bên ngoài. Có một số ảnh về nội thất của công trình như Phủ Toàn quyền, Nhà hát lớn.
– Bưu ảnh về các trại lính bộ binh, pháo binh, công binh, của quân đội Pháp và lính khố xanh tại khu nhượng địa và trong thành cổ, Bệnh viện Lanessan của quân đội (1894, Hữu nghị). Bệnh viện này có các nhà dành riêng cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan và cho Phụ nữ.
– Bưu ảnh các vườn hoa và tượng đài : Vườn Bách thảo (1890) với các ảnh về chuồng thú dữ, chuồng chim, nhà kèn; Vườn hoa Paul Bert (nay là Vườn hoa Lý Thái Tổ) gồm các ảnh về nhà kèn, tượng Paul Bert; Vườn Hoa ở Phủ Toàn quyền với tượng đài “La France” (1907), Vườn hoa Chevassieux (Vườn hoa Con cóc) …

Vườn Bách Thảo(Jardin Botanique)

Vườn hoa Con Cóc (Square Chevassieux)

– Bưu ảnh sông hồ : nhiều nhất là Hồ Hoàn Kiếm cùng các cảnh quan xunh quanh như Tháp Hoà Phong, Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, Tháp Rùa, các vườn hoa và lối đi chung quanh Hồ. Ngoài ra là các ảnh Hồ Tây và Sông Hồng.

Đê Sông Hồng (Quai du commerce)

Hồ Hoàn Kiếm(Petit Lac)

– Bưu ảnh đường phố Hà Nội : Phố Hàng Bạc, Đại lộ Paul Bert (phố Tràng Tiền), Đại lộ Henri Rivière (Ngô Quyền) …
– Bưu ảnh về các nghề nghiệp của người Việt : các công đoạn làm giấy ở làng Giấy (làng An Hoà), công nhân xưởng Thuốc lá, diễn viên tuồng, hát dong, các nghề thủ công như thợ xẻ gỗ, thợ tiện gỗ, thợ đúc, thợ sản xuất ô, dù, thợ vẽ, thợ cắt tóc và lấy dáy tai, phu kéo xe (Pousse-pousse), gánh cát, gánh nước, thầy đồ, bán hoa dong, người giúp việc …

Thầy đồ (Maitre d’école)

Thợ vẽ trang trí trên đồ khảm (Peintres Decorateurs)

– Chân dung người Hà Nội : phần lớn là chân dung các thiếu nữ. Đặc biệt có một số bưu ảnh như Nhà nho có móng tay dài, Phụ nữ răng đen, Cụ già 103 tuổi, Viên quan Kinh lược, Tổng đốc Hà Nội với 4 lính che ô …Ngoài ra là các bưu ảnh về cảnh sinh hoạt, trang phục và chân dung của các lính khố đỏ, lính kỵ binh, thiếu sinh quân …

Phụ nữ nhà giầu

Người già 103 tuổi

Lính khố đỏ

– Bưu ảnh về các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và các sự kiện : Cảnh rước rồng và lân ở phố hàng Quạt; Đám tang ông Poulin, thống sứ Bắc Kỳ; Chuyến bay thử nghiệm từ Hà Nội đến Lai Châu; Cảnh diễu binh ngày Quốc khánh Pháp 14/7; đặc biệt là ảnh thủ cấp các lính pháo thủ tham gia vụ Hà Thành đầu độc bị hành hình ngày 8/7/1908.

Các bưu ảnh xuất bản trong thời kỳ này đều có chú thích nội dung bưu ảnh và tất nhiên là bằng tiếng Pháp. Ghi chú địa phương được phân chia theo Kỳ (Ví dụ Bắc kỳ – Tonkin) và Tỉnh (Hà Nội). Nhiều địa danh của Hà Nội, do người Pháp đặt. Việc đặt tên này thường theo cảm nhận của họ. Ngoài ra, trong thời kỳ này, người Pháp cũng chưa phân biệt rõ ràng về các thuật ngữ chùa, đình, đền …, nên chỉ thường dùng từ Pagode (chùa). Xin nêu ra đưới đây một số thuật ngữ cần lưu ý :

– Địa danh Sông Hồng được họ dịch ra là Fleuve Rouge, nhưng Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm họ dùng là Grand Lac (Hồ lớn), Petit Lac (Hồ nhỏ).

– Đình Ngọc Hà được gọi là Pagode des Fleures (Chùa Hàng Hoa), có thể do đình tại làng Ngọc Hà là vùng trồng nhiều hoa. Đền Quán Thánh, nơi có bức tượng thờ Trấn Vũ nặng tới 4 tấn đồng được gọi là Pagode du Grande Bouddha (Chùa Phật lớn). Điện Kính thiên gọi là Pagode Royale (Chùa Vua). Đền Ngọc Sơn được ghi là Pagode du pinceau (Chùa Bút). Nhưng ta khó hiểu được tại sao người Pháp gọi Chùa Láng (có tên tự là Chiêu Thiền, thờ Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông) là Pagode des Dames (Chùa của những người Phụ nữ).

– Tiếng Pháp Tirailleurs Tonkinois dùng để chỉ Lính bản xứ Bắc Kỳ, nhưng nhân dân thường gọi là Lính khố đỏ.
( Ngô Thế Long )
nụ cười con trẻ
Nghị không hiểu nhiều về tiếng Pháp nên gửi kèm link dưới đây mọi người tham khảo nhé!
http://belleindochine.free.fr/tonkinAK.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s